Cổ tích những tương đồng biểu tượng

Cổ tích mãi mãi là những giấc mơ đẹp mà bất cứ ai, nhất là trẻ em đều mong muốn nó thành hiện thực. Những sợi tơ khát vọng đẹp nhất đã dệt thành tấm thảm ngôn từ cổ tích lóng lánh muôn màu sắc đưa con người bay vào bầu trời lộng lẫy của cái lý tưởng, cái đẹp, cái thiện.

Vì cùng là những mẫu số văn hóa chung của nhân loại nên trong cổ tích ở bất kỳ đâu, phương Đông hay phương Tây rất hay có những motip nghệ thuật tương đồng, giống nhau về sự kiện, nhân vật, chi tiết, tất nhiên tên gọi thì khác nhau. Đó cũng là những biểu tượng được bao bọc những lớp mã văn hóa mà có cố bóc cũng thật khó tìm thấy hạt nhân ý nghĩa. Xin một phép so sánh các biểu tượng ở hai truyện “Cô bé Lọ Lem” và “Tấm Cám”.

Người Việt Nam yêu thích truyện “Tấm Cám” thì người châu Âu (nhất là Pháp và Đức) thì say mê truyện “Cô bé Lọ Lem”. Làm một thao tác chồng văn bản sẽ thấy hai truyện giống nhau đến mức gần như trùng khít bốn biểu tượng: về xuất thân; ông bụt/bà tiên; hài; hoàng hậu. Giả sử có rút bốn biểu tượng này để làm bốn cái cột vững chắc nâng đỡ ngôi nhà cổ tích mới thì nó cũng chẳng khác hai ngôi nhà cũ bao nhiêu, vẫn loại nhân vật ấy, tư tưởng chủ đề ấy... Đã có biết bao bài nghiên cứu lý giải sự trùng hợp đến lạ lùng này!

image001.png -0
Tranh Lọ Lem thử hài!

Tên em là Lọ Lem vì suốt ngày phải làm trong bếp, nhóm lò, đốt than, nấu nướng nên mặt mũi như Lọ Lem. Cô Tấm cũng tương tự, phải xay thóc, giã gạo, ra đồng bắt tôm cá cua cáy... Tấm cũng “lọ lem” đến mức Cám nói trên đầu chị có “cứt trâu”, xuống sông mà gội kẻo về mẹ mắng. Mẹ chết sớm, Lọ Lem ở với dì độc ác. Tấm cũng vậy... Cả hai đều là người tốt. Phải chăng cổ tích đã khái quát về một quy luật đời sống: người tốt ở đâu cũng vất vả và ngược lại, người vất vả thường là người tốt (!?). Có thể điều này chưa phải là chân lý nhưng chắc chắn một điều là tác giả dân gian luôn bênh vực, che chở, dồn tụ niềm thương yêu, tự hào về hình tượng người lao động lam lũ, nhọc nhằn. Cổ tích đã truyền một niềm tin: người lao động chân lấm tay bùn sẽ không phải và không thể là người xấu!

Cổ tích dạy ta bài học nhân văn đầu tiên phải biết quý trọng lao động!

Ông Bụt giúp cô Tấm đủ điều kiện đi hội, nào ngựa hồng, nào váy áo, hài... Bà Tiên giúp Lọ Lem cũng thế. Như vậy, Bụt/Tiên đã giúp những người yếu thế, hẩm hiu thành một thân phận khác, thành một người đẹp, sang trọng, quý phái, vương giả. Giả sử bứng những nhân vật này ra khỏi mảnh vườn cổ tích thì sẽ không còn là cổ tích nữa. Vì cổ tích là những giấc mơ, mà những nhân vật ấy mới dệt nên những giấc mơ. Là thế lực siêu nhiên nhưng chỉ giúp người tốt nên họ trở thành điểm tựa tinh thần cho con người: Hãy tin vào những điều tốt đẹp. Hãy tin rằng gieo điều may mắn sẽ gặt hái những điều may mắn!

Tình tiết chiếc hài thật đặc biệt!

Không có nhân vật thần thoại nào đi giày/hài. Vì không có giày bảo vệ nên Asin dũng sĩ huyền thoại mới bị kẻ thù bắn mũi tên độc vào gót chân. Những thần thánh bất tử, tài năng, kể cả thần Dớt trên đỉnh Ôlanhpơ cũng chưa được đi giày dép. Các vị vua thần thoại phương Đông cũng vậy, dù có đội trên đầu cái mũ đính ngọc cực kỳ quý giá và ở tay thì cầm vương trượng bằng vàng, họ vẫn đi chân đất. Chỉ một khi xỏ chân vào đôi giày/dép/hài thì nhân vật mới được phép bước vào địa hạt cổ tích. Phải chăng đây là một bước tiến của nhân loại? Nhưng rất có thể điều ấy có từ quan niệm con người thần thoại là con người vũ trụ. Con người cũng là một “cây vũ trụ” bắt sâu rễ vào đất, còn đầu thiêng liêng ngẩng lên trời cao. Bàn chân người chính là bộ rễ ấy, nên không thể đi giày dép (?!). Do vậy, còn một cách hiểu khác là khi Asin bay lên trời, do không được tiếp thêm sức mạnh từ Đất Mẹ nên chàng dễ dàng bị kẻ thù hạ thủ! Một số tôn giáo cũng quan niệm người tu hành đi chân đất để trao gửi, hòa nhập tối đa với vũ trụ!

Rất nhiều nền văn học dân gian có motip người đàn bà giẫm vào vết chân khổng lồ thì mang thai, tất nhiên sẽ sinh hạ ra thần thánh, phải chăng cũng là cách cắt nghĩa bàn chân vừa là nơi tiếp xúc vừa là cầu nối vũ trụ với con người. Đấy cũng là biểu hiện ban đầu của mã quan niệm bàn chân gắn liền với sự sinh nở, sự phát triển, sự khỏe mạnh. Bộ môn châm cứu y học phương Đông cho rằng vì là cầu nối âm (đất) với dương (người) nên gan bàn chân như “cửa mở” vào cơ thể nên rất được chú ý... Tử vi phương Đông coi bàn chân/chân là một biểu hiện của đời sống tình dục nên giới quan lại phong kiến Trung Hoa từ thế kỷ X (SCN) quan niệm bàn chân phụ nữ phải thật nhỏ nhắn mới đẹp, mới đẻ nhiều. Từ đó sinh ra tục bó chân ghê sợ rất vô nhận đạo!

Tóm lại, khi rời xa tư duy thần thoại để dần dần con người độc lập với vũ trụ, với thần linh thì cái hài (bảo vệ bàn chân) là một mã biểu tượng văn hóa rất cơ bản. Tại sao lại là hài gắn liền với người phụ nữ? Nó chứng minh chế độ mẫu hệ đã khép lại, nhân loại bước vào xã hội giai cấp nên người phụ nữ trở thành hình tượng biểu trưng cho sự phụ thuộc, yếu hèn, vất vả, lam lũ, bị bóc lột... cần được thông cảm, che chở, giúp đỡ. Ngay trong thế giới chèo, tuồng cổ của ta, những vở có tích từ truyện dân gian thì cuộc đời buồn của người phụ nữ là cảm hứng chủ đạo để dân gian xây dựng những hình tượng nhân vật chính là nữ: Thị Kính, Thị Mầu (Quan Âm Thị Kính), Xúy Vân (Kim Nham), Thị Phương (Trương Viên), Đào Huế (Chu Mãi Thần), Châu Long (Lưu Bình Dương Lễ)… Ở tuồng, trong các vở: ''Tam nữ đồ vương'', ''Hồ Nguyệt Cô'', ''Mục Quế Anh''… các nhân vật nữ cũng đều là nhân vật trung tâm.

Còn là yếu tố thẩm mỹ, phụ nữ là biểu trưng cho cái đẹp, tất nhiên cái hài phải nhỏ nhắn, xinh đẹp!

Cả Lọ Lem và cô Tấm đều đánh rơi chiếc hài. Hài của Tấm rơi không rõ lý do nhưng với Lọ Lem là do mải vui gần đến giờ về (12 h đêm bà Tiên sẽ thu phép) mới vội vã ra xe ngựa. Thì ra sự chính xác về giờ giấc của phương Tây duy lý đã có từ thời cổ tích (!?). Ở cả hai truyện chiếc hài đều được hoàng tử nhặt được. Chiếc hài đẹp như thế thì dứt khoát người chủ của nó phải đẹp. Cả hai hoàng tử liền mở hội ướm giày để tìm ý trung nhân. Tất nhiên chẳng ai vừa, trừ Lọ Lem và Tấm!

Trong văn hóa nhân loại chiếc hài/giày là một mẫu gốc!

Rất nhiều xứ sở cổ xưa cả phương Đông và phương Tây, khi xã hội phân chia giai cấp thì giày dép là một biểu tượng của quyền sở hữu, với nghĩa khởi thủy là “đi giày dép mà bước, tức một hành động chiếm lĩnh đất đai”. Ở phương Đông cổ thì bước chân hoặc ném giày dép xuống ruộng là hành động đánh dấu của chủ sở hữu. Càng nhiều ruộng đất, tức càng giàu có nên giày/dép/hài còn là biểu tượng cho sung sướng hạnh phúc. Đôi hài/giày (nhất là hài, trong tiếng Trung Quốc chữ “hài” (giày phụ nữ) đồng âm với “hài” nghĩa là hài hòa, tốt đẹp) tiếp tục trở thành biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, được lấy làm quà tặng trong đám cưới.

image003.png -0
Tranh nàng Tấm đi hội!

Người Nga cổ có tục trong tiệc cưới, khăn ăn cô dâu được gấp thành hình con thiên nga, khăn ăn chú rể gấp thành hình chiếc giày với ý nghĩa chúc phúc cho tình yêu họ sẽ đẹp, bay bổng (như thiên nga), bền vững, giàu có (như chiếc giày). Trong đạo Kitô biểu tượng chiếc giày rất đa nghĩa. Cô dâu đặt chiếc giày bằng vải xatanh của mình vào giữa hai bàn tay của tượng Đức Mẹ Đồng Trinh với ý một sự dâng hiến, một sự nài nỉ xin được cứu vớt - tức một sự kêu gọi cầu cứu nhưng cũng đồng thời là một sự thách thức của lòng đam mê (!?)... Như vậy, với nhiều hướng tiếp cận mới, chỉ riêng về biểu tượng giày/dép/hài cũng đủ cơ sở, dữ liệu để làm nhiều luận án khoa học về văn hóa!

Cả Lọ Lem và Tấm đều trở thành hoàng hậu - một ngôi vị cao nhất của người phụ nữ trong xã hội. Chỉ có biểu tượng này dân gian mới thể hiện đầy đủ, tập trung nhất khát vọng của họ. Nếu ngày trước Lọ Lem, Tấm ở dưới đáy xã hội bị đè nén, coi thường, phải vất vả, lam lũ thì nay, phải ngược hẳn lại, trở thành người quyền lực, giàu có, sang trọng. Ước mơ đã được thực hiện một cách trọn vẹn viên mãn nhất!

Tất nhiên, đó chỉ là những giấc mơ. Còn hiện thực thì vẫn cay đắng, phũ phàng. Dân gian đành gửi những giấc mơ ấy vào văn chương. Từ đấy có một mô hình nghệ thuật cổ tích thoát thai từ đời sống nhưng ngược hẳn với đời sống thực tế mà ai đã bước vào thì chẳng muốn ra nữa!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).