Cỏ - Nhìn từ biểu tượng!

Trên bề mặt trái đất ở đâu có cỏ thì ở đấy có sự sống đang tồn tại và phát triển. Hoang mạc, sa mạc vẫn có sự sống nhưng khó mà nói sự sống ở đó vẫn đang phát triển vì không có biểu hiện là cỏ. Ở đây là cỏ nói chung, một loài thảo mộc trong thảm thực vật bao phủ mặt đất. Tuy là loài mọc hoang nhưng với hệ thống rễ dằng dịt có tác dụng giữ đất tại chỗ.

Nhờ cỏ mà các loại côn trùng, giun sinh sống sâu trong lòng đất góp phần quan trọng tạo nên độ giàu có dinh dưỡng. Nhờ cỏ mà các loài động vật ăn cỏ và ăn thịt tồn tại để tạo nên độ đa dạng sinh học… Như vậy cỏ cực kỳ quan trong trong sự sống của trái đất. Ước tính đồng cỏ bao phủ 20% diện tích trái đất, tập trung nhiều nhất tại châu Phi.

image001.jpg -0
Đồng cỏ châu Phi!

Cỏ đi vào văn chương với hai tư cách, là biểu hiện cho thế giới tự nhiên (nghĩa miêu tả), là biểu hiện cho một ý nghĩa, một triết lý nào đó (nghĩa biểu tượng). Trong thành ngữ về cỏ thì nghĩa biểu tượng vẫn chiếm nhiều hơn, ví như diễn tả về miếng ăn phải do tự tay lao động mới có, thì: “Cỏ nào chạy tới miệng voi”; nói về thân phận thấp hèn của con người (phụ nữ xưa) thì “Cỏ nội hoa hèn”; về những người cùng môi trường hoàn cảnh thường chịu chung cảnh ngộ: “Cỏ úa thì lúa cũng vàng”…

Nhà văn giỏi trước hết phải là người giỏi miêu tả, như trường hợp Nguyễn Du với câu thơ: “Cỏ non xanh rợn chân trời”. Nhà văn cũng là người triết lý sâu sắc, như trường hợp nhà thơ W.Whitman với câu: “Bạn muốn gặp tôi, hãy tìm tôi dưới đế giày của bạn”. Để hiểu câu này cần biết nó trích trong tập “Lá cỏ”: “Đấy là cỏ, cỏ mọc khắp nơi, ở nơi nào có đất và nước/ Đấy là không khí cho tất cả mọi người trên mặt đất”. Như vậy “dưới đế giày của bạn” là cỏ. Một cách nói ẩn dụ thi vị: nhà thơ ví mình như cỏ, mềm mại nhưng tràn trề sức sống như cỏ… Lại có trường hợp nhà chính khách, chính trị có câu nổi tiếng như lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp Nguyễn Trung Trực: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây” thể hiện một ý chí bất khuất đánh đuổi giặc Pháp xâm lược của người Việt Nam. Tôn giáo càng sâu sắc.

Thánh tích đạo Công giáo kể Thánh Jôdép vốn xuất thân là một người thợ mộc còn Mari thời thiếu nữ rất xinh đẹp có nhiều đám đến mai mối. Nhà Mari chọn rể bằng cách cho các chàng trai đặt một chiếc gậy của mình vào chung một chỗ, gậy của ai nở hoa thì được lấy Mari. Chỉ có chàng thợ mộc Jôdép được toại nguyện. Họ cưới nhau. Mari là mẹ nhưng vẫn là đồng trinh. Bà sinh con trai, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì họ không tìm được nhà trọ… Tích này như muốn cắt nghĩa người giàu nghèo không phải là lý do để được tôn trọng, sùng bái, cơ bản nhất là có sự yêu thương thật lòng, yêu thật thì gậy gỗ cũng có thể nở hoa. Kết quả của tình yêu thật sự ấy là Giêsu tuy sinh ra chỉ là ở nơi máng cỏ thiếu thốn, nghèo nàn nhưng sẽ trở thành Chúa Cứu thế được hàng tỷ người ngưỡng vọng. Xin đi sâu hơn vào lớp nghĩa biểu tượng của cỏ

Khi Nguyễn Trãi có câu thơ chua chát: “Hoa thường hay héo, cỏ thường tươi” (Tự thuật) thì “cỏ” ở đây biểu trưng cho kẻ tiểu nhân. Người quân tử, kẻ tốt (hoa) thường chịu số phận héo hon chìm nổi còn kể xấu, tiểu nhân, vì gian giảo, ma lanh, cơ hội nên vẫn nhơn nhơn sống. “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều có câu: “Trăm năm còn có gì đâu/ Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì” là một triết lý bi ai về cuộc đời rút cục cũng là cái chết, rồi tất cả cũng chôn vào dĩ vãng.

“Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn bản dịch của Đoàn Thị Điểm), tần số hình ảnh cỏ xuất hiện nhiều lần đa dạng về nghĩa, là biểu trưng cho mùa xuân: “Ngòi đầu cầu nước trong như lọc/ Đường bên cầu cỏ mọc còn non”; thể hiện tâm trạng buồn phiền nhung nhớ của người chinh phụ: “Nước có chảy mà phiền chẳng rửa/ Cỏ có thơm dạ nhớ chẳng khuây”; cái bế tắc mất phương hướng của nỗi đau cô độc: “Trông bến Nam, bãi che mặt nước/ Cỏ biếc um, dâu mướt ngàn xanh”

Bà Huyện Thanh Quan có câu thơ tả cảnh để đời: “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà/ Cỏ cây chen lá, đá chen hoa”. Hồ Xuân Hương tả cỏ chỉ là lớp nghĩa bề mặt: “Cỏ gà lún phún leo quanh mép/ Cá diếc le te lách giữa dòng” (Cái giếng). Hay, “Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi/ Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi” (Ốc nhồi). Thời cận đại hiếm hoi một hình ảnh cỏ miêu tả theo nghĩa thực như câu thơ của cụ Đồ Chiểu: “Ghét thói mạt như nhà nông ghét cỏ” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)…

“Truyện Kiều” có 20 lần xuất hiện hình tượng cỏ vừa tả cảnh vừa tả tình, rất đặc sắc. Tả cỏ nhưng để nói tới cảnh hoang vắng, con người tha hương, trôi nổi thì “Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày”. Nói về chủ nhà gặp điều bất trắc thì “Rêu trùm kẽ ngạch, cỏ len mái nhà”… Tả cảnh thiên nhiên tràn đầy sinh khí, con người hạnh phúc, thanh tân, có lẽ ai cũng thuộc câu: “Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Câu thơ của một đại bút, vừa là thơ vừa là họa, có cận cảnh, có viễn cảnh theo nguyên tắc “viễn cận”. Mặc dù câu thơ này thoát thai từ câu thơ cổ: “Phương thảo liên thiên bích/ Lê chi sổ điểm hoa” (Cỏ thơm xanh biếc liền trời/ Cành lê điểm mấy bông hoa), nhưng dấu ấn sáng tạo cá nhân rất rõ. Nguyễn Du đã thêm tông màu xanh và trắng (cỏ non) vào cảnh nền. Hình ảnh ấy không gian ấy tự đã có mùi thơm rồi nên ông cắt bỏ chữ “phương” (thơm)…

Chỉ hình ảnh “cỏ” trong câu thơ này đã trở thành “mẫu gốc” “đẻ” ra bao nhiêu “mẫu con”: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” (Hàn Mặc Tử), “Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh” (Nguyễn Bính), “Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên” (Chế Lan Viên); “Này đây hoa của đồng nội xanh rì” (Xuân Diệu). Câu này không có chữ “cỏ” nhưng vẫn có thể hiểu là tả không gian đồng nội “cỏ xanh rì”, tức xanh đậm, đầy sự sống. Trong tâm trạng yêu đương cuồng nhiệt ấy thì không gian cũng phát sáng, “cỏ” cũng phát sáng: “Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều/ Và non nước, và cây, và cỏ rạng”…

8hagiang-1662522284.jpg -0
Thảo nguyên ngày xuân!

Truyện ngắn “Cỏ non” của Hồ Phương từng đoạt giải 3 Báo Văn nghệ năm 1959 và được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhiều năm. Truyện tả nhân vật Nhẫn chăn bò, một công việc rất bình thường nhưng nhờ có tình yêu lao động mà công việc trở nên rất mực thi vị. Cây biểu tượng thường mọc trên mảnh đất thơ ca. Cỏ trong truyện ngắn này đơn thuần chỉ là nghĩa đen đóng vai trò làm “nền” nói về tình yêu công việc chăn bò.

Truyện có chi tiết bị nhiều “nhà phê bình” “kết án” rằng nhà văn đã “vật hóa” con người: “Nom những cái mõm ngọn cỏ sao mà ngon thế! Ngon đến nỗi phải ứa nước miếng. Nhẫn cũng muốn cúi xuống gặm một đám cỏ lưỡi gà, đuôi rắn kia mà nhai ngấu nghiến”. Tức đã biến Nhẫn thành con bò vì chỉ có bò mới ăn cỏ. Thế thì oan cho nhà văn quá! Xét về nghĩa thực thì ai đã từng làm trẻ trâu ở nhà quê ngày trước thì ít nhiều đã từng “ăn” loài cỏ lưỡi gà này. Nó rất ngọt. Về nghĩa biểu cảm, một người tha thiết với “nghề chăn bò” như thế, thấy cỏ non như vậy mà “ứa nước miếng” là hợp lý. Là trẻ trâu, yêu trâu, được đưa trâu đến thảm cỏ như vậy, sẽ có rất nhiều đứa trẻ sẽ cùng tâm trạng giống với Nhẫn!

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu có bài thơ hay “Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn”: “Đàn bò vàng trên đồng cỏ xa xanh/ gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều sót lại/ mùa rạo rực chỉ đàn bò biết được/ vị cỏ râm ran đầu lưỡi ngọt mềm/ Đàn bò đi đủng đỉnh/ một gam màu vàng óng trước thiên nhiên/ những chiếc bụng tròn căng mang mặt trời xuống núi/ kìa, vầng trăng như chiếc tù và người chăn bò bỏ quên/ Đàn bò vàng trên đồng cỏ chiều yên”. Cả một màu vàng hoàng hôn ánh xạ vào tất cả: đồng cỏ xanh thành đồng cỏ vàng. Đàn bò vốn màu vàng giờ hoàng hôn chiếu vào thêm “vàng óng”. Tất cả đều mang tầm vũ trụ, một vũ trụ yên bình, êm ả: Những chiếc bụng bò tròn như mặt trời vàng; Chiếc tù và như vầng trăng neo ở giữa trời. Dĩ nhiên người chăn bò cũng như vậy, thậm chí là chủ nhân của vũ trụ(!).

Cỏ xuất hiện nhiều nhất trong thơ Thanh Thảo. Anh từng có những câu thơ mang dấu ấn thời đại: “Dấu chân in trên đời chúng tôi những tháng năm trẻ nhất/ Mười tám hai mươi sắc như cỏ/ Dày như cỏ/ Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ” (Những người đi tới biển). Bài thơ hay “Dấu chân qua trảng cỏ” của anh có định nghĩa lạ: “Thời gian như cỏ vượt lên”, “Vùi trong trảng cỏ thời gian”… “Cỏ” là một tín hiệu thẩm mỹ đặc biệt trong thơ Thanh Thảo rất đáng để nghiên cứu sâu!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).