Có một Quảng Trị trong thơ và nhạc

Hàng năm, cứ gần đến ngày 27/7, trong lòng mỗi chúng ta lại trào dâng những xúc động khôn nguôi về bao thế hệ cha anh đã đổ xương máu cho nền độc lập tự do của dân tộc. Mỗi tấc đất quê hương, mỗi ngọn núi con sông đều in dấu những chiến công, in dấu cả những vinh quang và những đắng cay mất mát.

Và chúng ta không bao giờ quên Quảng Trị, mảnh đất anh hùng bất khuất và cũng đầy sâu nặng nghĩa tình đã cùng bao mảnh đất quê hương khác băng mình qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của thế kỷ 20. Quảng Trị cũng đã trở thành một nguồn cảm hứng bất tận cho rất nhiều tác phẩm thơ và nhạc của người Việt từ nửa cuối thế kỷ trước cho tới tận ngày hôm nay.

Ngay từ năm 1948, mảnh đất Quảng Trị đã đi vào những lời ca hào hùng trong bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương: “Đồng bào ơi cùng Bình Trị Thiên đứng lên. Đứng lên ta nguyện giết loài lang sói. Căm thù đây phải trút hết. Loài hung tàn phải quét hết. Ta tiến lên giữ lấy nương đồng. Đây Cự Nẫm kia Câu Nhi đây Ba Lòng kia Khe Sanh, đây bao nơi chôn thây quân thù. Bình Trị Thiên đây lò tranh đấu. Chiến công muôn đời lòng đất nước ghi sâu” (Bình Trị Thiên khói lửa). Cái tên Bình Trị Thiên được dùng suốt từ thời kháng chiến chống Pháp cho tới tận năm 1989, Bình Trị Thiên mới được tách ra làm ba tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế như hiện nay.

các chiến sĩ chiến đấu trong thành cổ quảng trị.jpg -0
Các chiến sĩ chiến đấu trong thành cổ Quảng Trị.

Sau hiệp định Giơnevơ 1954, cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải thuộc thôn Hiền Lương, xã Hiền Thành, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị được chọn làm giới tuyến phân chia hai miền Nam Bắc dọc theo vĩ tuyến 17. Đôi bờ sông Hiền Lương trở thành nhân chứng lịch sử trên 20 năm, mang trong mình nỗi đau chia cắt đất nước.

Biết bao tác phẩm thơ nhạc đã ra đời bên dòng sông Hiền Lương, mang theo khát vọng thống nhất đoàn tụ hai miền: “Bên ven bờ Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về. Mắt đượm tình quê đôi mắt đượm tình quê. Xa xa đoàn thuyền nan, buồm căng theo gió xuôi dòng. Bỗng trong sương mờ không gian trầm lắng nghe câu hò (…) Ơi câu hò chiều nay sao mang nặng tình ai? Hay là em bên ấy trong phút giây nhớ nhung trào sôi. Gửi lời tim cho gió qua mấy câu thiết tha hò ơi!” (Câu hò bên bờ Hiền Lương, Hoàng Hiệp - Đằng Giao, 1956).

Nỗi niềm nhớ thương hướng về miền Nam tiếp tục cất lên da diết khắc khoải trong bài hát “Xa khơi” của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ: “Nắng tỏa chiều nay, thuyền về mái đọng chiều nay, nhìn phương Nam con nước vơi đầy thương nhớ, nhớ thương anh ơi. Ơi mênh mông sóng xô du thuyền ta xa bờ. Âm vang tiếng hò nhịp chèo ta mong chờ. Thuyền ra xa khơi đưa nhịp chèo nối liền. Đường đi muôn khơi mái chèo chung đôi miền. Ơ mênh mông biển khơi câu hò thương nhớ. Vang về miền Nam quê ta”. 

Nhà thơ Tế Hanh có bài thơ độc đáo “Trò chuyện với sông Hiền Lương” với cấu trúc hai đoạn, đoạn của nhà thơ nói và đoạn của dòng sông cất lời. Sông Hiền Lương đã thốt lên những lời gan ruột, như nói hộ cho nỗi lòng của muôn triệu người Việt: “Tôi chảy ngày đêm không nghỉ/ Hai bờ Nam Bắc nhìn đau/ Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu”. Tự trong thẳm sâu lòng người và trên cao vời một màu xanh xứ sở, tất cả vẫn là một không gian biển trời duy nhất không gì cách ngăn, đó cũng là khát vọng mãnh liệt của bao con người đang ngày đêm trông ngóng. Những câu thơ của Tế Hanh đã nằm trong hành trang đi vào chiến trường của biết bao chiến sĩ giải phóng.

Cho đến Chiến dịch Thành cổ kéo dài 81 ngày đêm, từ 28/6 đến 16/9/1972 thì Quảng Trị đã trở thành điểm nóng nhất trên toàn bộ chiến trường. Báo Quân đội Nhân dân số ra ngày 9/8/1972 đã viết: “Mỗi mét vuông đất tại thành cổ Quảng Trị là một mét máu và sự hy sinh của các anh đã trở thành bất tử. Trung bình mỗi chiến sĩ phải hứng lấy 100 quả bom, 200 quả đạn pháo. Mỗi ngày có một đại đội vượt dòng Thạch Hãn để tiếp viện quân số, nhưng đêm nay một đại đội tiến vào thì ngày mai chỉ còn vài người sống sót”.

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha sau 1975 đã viết trong trường ca “Màu Quảng Trị” những câu thơ xót xa thấm thía: “Đo trên bản đồ hơn một cây số vuông/ Tôi gặp ở đây tan tành bao miền đất/ Nhưng nơi nào đau nhất/ Để suốt đời tôi không gặp lại Cổ Thành/ Để suốt đời không gặp lại các anh/ Một mùa hè nung nấu/ Mùa hè ấy gạch chảy ra như máu/ Máu dựng lên che chở những con người”.

Hàng chục ngàn người lính của cả hai bên đã hy sinh trong trận chiến này. Và báo chí Mỹ phải lấy làm kinh ngạc bởi không thể giải thích nổi tại sao những chiến sĩ giải phóng lại có thể sống và chiến đấu dưới làn mưa bom bão đạn B52, có sức công phá gấp 7 lần quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima năm 1945.

đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trong thành cổ quảng trị.jpg -0
Đài tưởng niệm các Anh hùng - Liệt sĩ trong thành cổ Quảng Trị.

Trong sự khốc liệt tột cùng của chiến tranh, những bài thơ vẫn tuôn trào trên trang giấy như nguồn cổ vũ tinh thần mạnh mẽ cho những người lính. “Bài hát ru giữa trận B52” của nhà thơ Bằng Việt là một trong những bài thơ độc đáo như thế, tìm ra sự bình yên ngay cả trong những gì khắc nghiệt nhất, đó là một giấc ngủ nhẹ nhàng của người nữ giao liên giữa điệp trùng bom đạn: “Ba hồi bom trút cuồng điên/ Bốn lăm phút nữa lại thêm ba hồi/ Tóc em, đất lấm như vùi/ Cứu thương, ánh mắt trong ngời vẫn em/…Ngủ đi em, ngủ ngon lành/ Sức em trẻ lắm còn dành ngày mai/ Trận bom gần sáng xa rồi/ Ngủ đi em, có anh ngồi thức ru…”.

Cũng trong thơ Bằng Việt, từ những người lính chiến đấu trực tiếp giữa chiến trường, cho đến những người dân đang sinh sống trong vùng đất lửa, họ đều đối diện với chiến tranh bom đạn bằng cái nhìn thật bình thản, coi bom đạn như một phần của đời sống thường ngày. Phẩm chất anh hùng và sức sống mãnh liệt từ đó bật lên qua những câu thơ giản dị mà lẫm liệt: “Bọ già ngoài sáu mươi/ Chiếc quần đùi, dây thép gai xé rách/ Đứng giạng trên sân chà từng lượm lúa/ Bằng hai bàn chân sần chai/ Hạt lúa đầu mùa nóng hổi vàng tươi/ Giành giật với B52 và pháo kích…”. (Ghi từ một vùng đất lửa). Sức khái quát của bài thơ tiếp tục bật ra trong những câu cuối cùng: “Đất trụi trần ngang dọc hầm hào/ Hơi thở con người chắc nặng/ Đất cay cực, giành đi giật lại/ Tôi biết đất này từ nay của tôi/ Tôi đi thẳng vào lòng đất mở/ Đất khai sinh cạnh đất đã chôn vùi”.

Sau 1975, Quảng Trị vẫn tiếp tục trở thành đề tài cho nhiều tác phẩm thơ với những suy tư sâu lắng. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý bày tỏ những khát vọng về hòa hợp và hòa giải dân tộc: “Rêu cũng đỏ như đã từng là máu/ Cỏ xanh hơn nơi vạn chiến binh nằm/ Ù…ù…gió hay hồn lính trận / Thổi trăm năm không qua được mùa hè/ Hương khói thơm trên từng viên gạch vỡ/ Chảy âm thầm trong đất tuổi hai mươi/ Đài chứng tích - nấm mộ chung liệt sĩ/ Nhưng khói hương này xin thắp cả đôi bên/ Ai thấu hết nỗi đau của Mẹ / Để dựng tượng đài Nước mắt Việt Nam?/ Thành Cổ ơi, đã qua thời máu lửa/ Xin để hoa tươi được hát cho mình!” (Thắp cho Thành Cổ).

Những người lính trở về sau cuộc chiến không bao giờ quên bao đồng đội đã nằm xuống. Trong một lần trở lại chiến trường xưa, cựu binh Lê Bá Dương đã viết bài thơ “Lời gọi bên sông”, chỉ bốn câu mà lay động trái tim muôn vạn người. Bài thơ đã được khắc trang trọng lên bia đá bên dòng Thạch Hãn: “Đò lên Thạch Hãn ơi, chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Chỉ với một chữ nhẹ, mỗi người đọc cảm nhận được rằng, những người lính tuổi đôi mươi ấy không bao giờ chết, họ chỉ đang nằm ngủ một giấc nhẹ nhàng dưới lòng sông. Và xin hãy để yên cho họ ngủ. Máu xương những người lính ấy đã hòa cùng đất đai sông nước của Tổ quốc, tiếp tục bảo vệ giữ gìn cho quê hương xứ sở này.

Những lớp trẻ ngày nay được sinh ra và lớn lên trong một kỷ nguyên hòa bình, khi đất nước đã không còn tiếng súng. Nếu một ngày được bước chân vào Thành Cổ, sẽ thấy bạt ngàn những sắc cỏ xanh, xin hãy nhớ rằng dưới lớp lớp cỏ xanh ấy là bao xương máu cha ông đã đổ xuống.

Nhạc sĩ Tân Huyền qua ca khúc “Cỏ non Thành Cổ” đã nói giúp muôn triệu người Việt Nam về lòng biết ơn thiêng liêng sâu nặng ấy: “Cỏ non thành cổ một màu xanh non tơ/ Bình minh thành cổ, cỏ mềm theo gió đung đưa/ Cỏ non thành cổ một màu xanh non tơ/ Nào có ai ngờ nơi đây một thời máu đổ/ Người vợ nào người mẹ nào ngậm ngùi nuốt lệ khi chồng con không trở về/ Cho tôi hôm nay vào thành cổ/ Thắp một nén nhang viếng người nằm dưới cỏ/ Cỏ xanh non tơ cỏ xanh non tơ xin chớ vô tình/ Với người hy sinh trên mảnh đất quê mình”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).