Có một Ngô Đức Hành trong mênh mang mạch chữ

Đọc thơ Ngô Đức Hành, nhận ra dòng chủ lưu của miền câu chữ ấy là cái mạch quê, mạch đời, mạch người sinh tự bốn mùa sỏi đá miền Trung.

Nhận diện từ những mảnh rời

Đã nhiều lần bên những cuộc vui, chúng tôi thường đùa nhau rằng để mấy mươi ngàn nhà thơ, nhà báo làm gì? Trong khi cả 3 miền của đất nước này chỉ cần có chục ông cỡ như Ngô Đức Hành là đủ. Thì như Tây Nguyên có ông Văn Công Hùng, Quảng Trị mấy năm nay bổ sung ông Nguyễn Hữu Quý… Còn ngoài Bắc, nếu một mình ông Hành e là mỏng, nhưng thêm vào độ dăm bảy ông Ngô Đức Hành nữa cho miền Bắc là dứt khoát thừa ngay! Vui mồm thế để nói cái nhanh nhẹn và cả cái ham đọc, ham viết, viết nhanh của nhà báo, nhà thơ Ngô Đức Hành trên truyền thông là rất đáng kể vậy.

Có một Ngô Đức Hành trong mênh mang mạch chữ -0
Nhà thơ Ngô Đức Hành.

Quả thực, cái cách viết, cái sức viết, sức đọc, cách đọc của Ngô Đức Hành dứt khoát là bởi cái thiên tư, cái đam mê, chứ tuyệt nhiên không thể là cái “cần cù, chịu khó” trong lao động văn chương được! Ngạc nhiên nhất là cách viết giới thiệu sách viết cảm nhận thơ của ông. Có khi vừa nhận sách tặng buổi sáng, thì tối ấy ngài Hành đã gõ xong một ngàn bảy trăm chữ zin đét!

Vốn nhiều kinh nghiệm trong nghề báo, nên “ngài” cứ viết bài nào là ăn chắc bài ấy, không lo “phạm húy”, “phạm tự” đáng kể nào cả! Về tài viết báo nhanh của Ngô Đức Hành, thì đến cẩn trọng như cụ Vũ Quần Phương còn phải thốt lên: “Chịu tay Hành, nó làm báo giỏi thật”.

Rất khó để minh định về Ngô Đức Hành trong “căn nhà” nào giữa nhà báo, nhà thơ, hay lý luận phê bình. Thôi thì kệ nhân gian nhận diện, hình bóng, dáng dấp của anh qua tác phẩm. Nghề văn chương khó nói trước lắm, chỉ biết rằng ngoài đời Ngô Đức Hành vẫn đang thong dong câu chữ đi khắp nẻo, bạn bầu với muôn phương cùng những nụ hoan hỷ trong cõi nhân gian này!

Lọc trong những trang đêm

Bụng bảo dạ phải viết một bài cho ra gì về thơ Ngô Đức Hành, nhưng cứ gõ vào phím thấy hiện lên một Ngô Đức Hành báo, một Ngô Đức Hành bạn, một Ngô Đức Hành phiêu du… chả biết nhấn vào đâu cho ra cái đặc trưng thơ của anh. Thế là vào lần lại chữ nghĩa của anh qua các tập thơ, như: "Con đường rạ rơm"; "Câu hát tìm anh" rồi lần cả vào "Mai ngày"; "Balad đêm"; "Balad khác"… thì mới nhận diện đầy đủ cái “ngữ diện” tàng trong căn chữ của thơ Ngô Đức Hành.

Nào, giờ thì lên chuyến xe thơ truyền thống của ông họ Ngô sông Nghèn, theo "Con đường rơm rạ", mà về Nghệ tung tẩy một phen:

"Chưa về Hà Tĩnh đã say/ Áo tơi em cởi gói ngày hanh hao/ Hà Tĩnh giòn cả lời chào/ Cu đơ cầu Phủ vênh vao quê nhà…/ Cúc đơm ngực áo trắng ngần/ gió Lào tháng Bảy trời vần vũ ghen/ Chưa về Hà Tĩnh quê em/ nhớ thương câu Ví mà đêm võng chùng" (Hà Tĩnh).

Đọc lên thấy tuyền những quen thuộc cả, nhưng nói về xứ Nghệ mà không có gió Lào, không Cu đơ, không có làn da con gái Nghệ… là dễ lẫn lắm. Thì thôi, cũ vẹt một chút, nhưng còn may có cái định danh của vùng miền vậy:

"Anh theo em về với Vinh không/ Ngày chạm ngõ gió Lào bê mâm quả/ Cam Xã Đoài thổn thức khuy áo lạ/ Nắng gió vô tình nổi đóa ghen tuông" (Nắng Vinh).

Vinh quá, Nghệ quá, đặc Nghệ dọc hai bên "Con đường rơm rạ" của họ Ngô, thì tạm rời cung rơm rạ nhớ thương chuốt những sợi vàng ấy, để nhập vào một cung "Ballad đêm". Nào, xem một cung yêu rượt đuổi trong mạch chữ, mạch đời thời @:

"Người đàn bà hóa vào trang giấy/ Những đường cong gọi con chữ xếp hàng… Bài thơ em không gửi anh/ Nét chữ  nõn hương rừng ngầy ngậy/ du dương cuộn mình như ký tự @/ mặt đất giao mùa kẽ chân lông căng mọng…" (Người đàn bà & Trang thơ).

Có chỗ, chữ của ngài Hành trong đêm Ballad còn căng thĩm lên, gợi mở hơn nữa:

"Say đi em/ bóng đêm/ nhung lụa huyền vĩnh cửu/ mềm bóng mây ngả nào địa đạo/ (…) cơn say hóa (…) tín đồ" (Say đi em).

Có một Ngô Đức Hành trong mênh mang mạch chữ -1
Tác giả Nguyễn Thế Kiên và nhà thơ Ngô Đức Hành.

Nhưng lạy giời “ngài” Đức Hành chỉ thể nghiệm, thử nghiệm và điểm xuyết vài bông chữ ấy thôi, còn chiếm dung lượng lớn trong thơ “ngài” là những cung Ballad đích thực với chất đồng quê & dân ca đưa đẩy và lay gợi.

"Có một khoảng trời xanh tuổi thơ anh/ có một con đê chân trời rợn cỏ/ có một dòng sông mải mê thuyền, vó/ có một cánh diều no gió vi vu/ Có con sông nghèo đắm đuối tuổi thơ/ lối qua nhà em bạt ngàn xấu hổ/ đêm thèn thẹn đong đầy thương nhớ/ bóng một thời trôi dạt lơ ngơ…" (Khoảng trời có em).

Đây có lẽ mới là chất trong thơ của họ Ngô, một lãng tử mang sông Nghèn, mang Hà Tĩnh thong dong đi bốn phương người, những câu chữ của anh khi trở về đúng chất, nó chợt đằm, chợt hiện, chợt đầy lên từ ruột chữ:

"Có dải miền Trung cõng đồi nắng lửa/ nghe bước chân trần ước chạm đôi môi/ Có những phút xa như sợi chỉ mảnh/ có những phút gần cách nhau thế kỷ/ …/ Có những ước mơ trong đời rất thật/ có đời sống thật như đá mồ côi" (Đồng dao cho em).

Ngô Đức Hành với chất người ấy, báo ấy, thơ ấy, sức viết cuồn cuộn ấy, dĩ nhiên phải có một miền yêu đa chiều, đa diện và mang rất nhiều cung bậc. Yêu chứ, viết thế, sống thế, không yêu thì phí phạm một đời lãng tử, phí phạm một kiếp chữ lắm. Có lãng tử lắm thì mới nhận diện được mình trong câu chữ như thế này:

"Em là mảnh vỡ/ thiên di nghìn năm/ anh là hóa thạch/ đã thành trời xanh/ Rơi vào đầu anh/ mảnh nào bão tố/ nâng niu sướng khổ/ vết thương đau - lành" (Em).

Lãng tử Ngô Đức Hành cứ vô tư tung tẩy quăng chữ vào cõi yêu, có hôm trên trang phây-búc của “ngài” dồn dập ba bốn bài, bạn bè cứ mắt tròn mắt dẹt mà bấm like (like) trong nghi hoặc. Có đận, mấy nhà văn nữ như Phan Mai Hương, Đỗ Thu Hằng, Giang Đăng, Thúy Nga… phải nhược nhào vì “lai” vì “còm” thơ tình của ngài. “Lai” xong còn nhớn nhác nhắn vào nhóm Zalo chung: "Bác Hành hôm nay tình móm hay sao, mà thơ lên ác quá, sáng giờ vật tới ba bốn bài rồi! Hay là ông ấy làm sao ạ?...".

Giờ đây, ngồi đọc liền cả sáu bảy tập thơ của ông, mới vỡ ra đấy là cái căn thơ của Ngô Đức Hành. Có điều, “ngài” Hành trên Facebook vô cùng non nớt trước “ngài” Hành đằm trầm, tinh tế trong cửa chữ của những ấn phẩm thơ đã xuất bản:

"Em về nhón gót chân son/ Người xưa Lạc Việt hỏi còn ở đây/ Hỡi em má đỏ hây hây/ bước từ cổ tích heo may gối mùa/ dãi dầu Ngàn Hống nắng mưa/ Vân Chàng lửa đỏ gió lùa ái ân/ Tựa vào Ngàn Hống mà xanh/ Theo câu Ví Giặm tìm anh, em về" (Câu hát tìm anh).

Có thể nói, trong những ấn phẩm thơ đã xuất bản của Ngô Đức Hành, mạch tư tưởng thơ mà ông hướng tới gây ấn tượng trong cả 7 tập thơ đã xuất bản là hình bóng miền Trung quê anh với rất nhiều lát cắt. Ngô Đức Hành nhập chữ của mình vào hồn vía quê hương bằng vốn sống, vốn yêu, vốn đi, vốn viết của một kiếp người xê dịch trong kiếp chữ:

"Tôi hạt cát miền Trung/ gió Lào ghim tôi vào chiều Hà Nội/ hạt sém gió/ lang thang trên con đường mềm mại một ngày xa" (Tôi).

Thơ ca từ cảm xúc đến cấu tứ và tư tưởng thơ ngỡ gần ngay đấy, mà có người cả đời thơ, câu chữ không vượt qua nổi cánh cửa cảm xúc để hướng tới sự tương tác chia sẻ và giải tỏa theo nguồn theo mạch. Ngô Đức Hành sau những dấu chân hồ hải, những chan trải gió sương, những nhẫn nhịn an nhiên, những hòa đồng khắp chốn mới đủ tỉnh thức để nhận ra hồn vía quê hương mình hiển hiện giữa đô thành như thế nào. Phép nhận diện ấy thuộc về miền thức ngộ của một tri thức:

"Có một phần Hà Tĩnh xa quê/ có một phần gừng cay muối mặn/ có một phần sông La ngàn Hống/ chảy suốt chiều dài Thăng Long - Thủ đô/ Em trao anh câu đợi câu chờ/ võng mẹ ru xóm Hạ Hồi giữa phố/ Hà Tĩnh mình thương Hồ Tây vò võ/ trời Can Lộc quê nhà làm Hà Nội xanh hơn" (Có một phần Hà Tĩnh).

Thì thầm bên một mạch chữ!

Đọc thơ Ngô Đức Hành, nhận ra dòng chủ lưu của miền câu chữ ấy là cái mạch quê, mạch đời, mạch người sinh tự bốn mùa sỏi đá miền Trung. Viết đến đây, nhớ hôm nào đó, bên cốc bia chiều nắng ọp ẹp trong xứ Lĩnh Nam, ông bảo: “Anh là một gã nhà báo, cầm thơ nhập vào cuộc chơi vậy thôi, chú ạ”. Có thể lắm, ông đã tiếp cận hàng ngàn văn nhân trong cả nước, viết về thơ của rất nhiều nhà thơ, nhưng hình như ông lại chưa/không bắt ra mạch cho thơ mình? Mà cũng có thể vì tôi vốn chậm chữ, nên sau khi đọc cả ngàn bài thơ của ông, mới nhận ra cái mạch chữ chủ lưu đã đưa những dấu chân Ngô Đức Hành lãng tử phiêu du trong cõi nhân sinh này?

Thôi thì kệ, bởi trong mạch chữ mênh mang và hồ hải ấy, Ngô Đức Hành chả nóng giận cùng ai. Thơ ấy, người ấy cứ như mầm hạt của miền Trung, gieo vào đâu là phủ xanh nơi ấy!

Hà Nội, 05/2025

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).