Có một Đà Lạt trong thơ và nhạc

Đà Lạt với vẻ đẹp trong trẻo mà dịu dàng, u uẩn mà kiêu sa đã đi vào không biết bao nhiêu tác phẩm thơ, nhạc nổi tiếng suốt từ nửa đầu thế kỷ trước cho tới nay. Không biết ai đó đã viết một câu thật đúng về Đà Lạt mà tôi rất tâm đắc: Đây là nơi còn mãi mùa thu.

Trong cái nóng oi bức của mùa hè Bắc Bộ, để nghĩ về sự dịch chuyển đến một không gian núi đồi có khí hậu mát mẻ quanh năm, tôi chắc rằng sẽ có rất nhiều người nghĩ về Đà Lạt. Phải rồi, Đà Lạt cũng là thành phố ở Việt Nam có nhiều tên gọi theo phong cách mỹ từ hóa nhất mà không đâu sánh bằng: “thành phố mộng mơ, thành phố ngàn hoa, thành phố ngàn thông, xứ hoa đào, thành phố sương mù, thành phố tình yêu, tiểu Paris phương Đông...”. 

Và chắc chắn không phải ngẫu nhiên, Đà Lạt với vẻ đẹp trong trẻo mà dịu dàng, u uẩn mà kiêu sa đã đi vào không biết bao nhiêu tác phẩm thơ, nhạc nổi tiếng suốt từ nửa đầu thế kỷ trước cho tới nay. Không biết ai đó đã viết một câu thật đúng về Đà Lạt mà tôi rất tâm đắc: Đây là nơi còn mãi mùa thu.

Đà Lạt thành phố ẩn hiện trong sương mù.
Đà Lạt thành phố ẩn hiện trong sương mù.

Nơi khơi nguồn sáng tác

Ngược dòng thời gian, chính bác sĩ Alexandre Yersin là người đã gợi ý cho viên Toàn quyền Paul Doumer xây dựng một khu nghỉ dưỡng ở vùng cao nguyên Lâm Viên, tức Đà Lạt ngày nay. Cho tới ngày 20 tháng 4 năm 1916, Hội đồng phụ chính của vua Duy Tân thông báo Dụ, thành lập thị tứ Đà Lạt. 

Và cho đến những năm 40 của thế kỷ trước, Đà Lạt đã được coi là thủ đô mùa hè của toàn Liên bang Đông Dương, được chọn làm nơi lui đến để nghỉ dưỡng của giới thượng lưu cũng như những tâm hồn nghệ sĩ. Những thi phẩm nổi tiếng đầu tiên viết về Đà Lạt đều do những thi sĩ ở các miền đất khác tìm về và sáng tác. 

Thời kỳ Thơ Mới lãng mạn (1932 - 1945) phải kể tới hai bài “Đà Lạt trăng mờ” của Hàn Mặc Tử và “Đà Lạt đêm sương” của Quách Tấn. Nếu như Hàn Mặc Tử ấn tượng mạnh mẽ với trăng Đà Lạt thì Quách Tấn lại ấn tượng với sương Đà Lạt. Và hiển nhiên hai bức tranh mê đắm quyến rũ ở nơi khói sương này đều hiện lên vào ban đêm. 

Ban đêm mang đến nhiều thi vị hơn, cũng như mức độ huyền ảo và yên tĩnh tuyệt đối đã làm những tâm hồn thi sĩ cảm giác như lạc vào tiên giới: “Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu/ Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ/ Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt/ Như đón từ xa một ý thơ” (Hàn Mặc Tử), “Một luồng sương bạc bỗng từ mô/ Lẻn cuốn vầng trăng cuốn mặt hồ/ Cuốn cả non sao bờ suối ngọc/ Người lơ lửng đứng giữa hư vô” (Quách Tấn). 

Trong hai bài thơ, cả hai thi sĩ đều có chung những cảm giác về trăng, về hồ, về đêm vắng…Và quan trọng hơn nữa là đều có cảm giác về tình yêu đôi lứa. Không gian này, cảnh vật này như để dành riêng cho những người yêu nhau cần tìm đến đây. Hàn Mặc Tử thì viết: “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều/ Để nghe dưới đáy nước hồ reo/ Để nghe tơ liễu run trong gió/ Và để xem trời giải nghĩa yêu”. Còn Quách Tấn, chàng cảm thấy như có một bàn tay người thiếu nữ đang ve vuốt thân mình: “Trời đất tan ra thành thủy tinh/ Một bàn tay ngọc đẫm hương trinh/ Âm thầm mơn  trớn bên đôi má/ Hơi mát đê mê chạy khắp mình”. 

Nếu như Hàn Mặc Tử và Quách Tấn là những thi sĩ từ Bình Định tìm lên với Đà Lạt từ trước 1945 thì cách sau đó gần nửa thế kỷ, nhà thơ Nguyễn Duy từ một khoảng cách địa lý xa hơn cùng tìm lên với Đà Lạt và để lại những vần thơ quyến rũ: “Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng/ Ngọn gió nhà ai thấp thoáng ở bên đồi/ Tiếng móng ngựa gõ giòn trên dốc vắng/ Nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi/ Em nhóm bếp bằng củi ngo chẻ nhỏ/ Ngọn lửa lấp đi khoảng vắng giữa hai người” (Đà Lạt một lần trăng).

Thiên đường của những loài hoa

Rừng thông đà Lạt.
Rừng thông đà Lạt.

Một trong những vẻ đẹp khó quên của Đà Lạt đối với ai từng một lần đặt chân đến đây là thế giới của muôn ngàn sắc hoa. Và đối với mỗi người nghệ sĩ, có lẽ đã tự chọn cho mình một loài hoa riêng nào đó để mà ám ảnh, để mà yêu thương suốt cả cuộc đời. 

Từ thập niên 50 của thế kỷ trước, nhạc sĩ Hoàng Nguyên đã viết ca khúc “Ai lên xứ hoa đào” như món quà tặng riêng cho Đà Lạt: “Ai lên xứ hoa đào dừng chân bên hồ nghe chiều rơi/ Nghe hơi giá len vào hồn người chiều xuân êm mây trôi/ Thông reo bên suối vắng lời dìu dặt như tiếng tơ/ Xuân đi trong mắt biếc lòng dạt dào nên ý thơ”. 

Sau 1975, nhạc sĩ Trần Kiết Tường lại xúc động với loài hoa mang tên mimosa: “Mimosa, từ đâu em tới/ Mimosa vì sao em tới đất này/ Đà Lạt đồi núi chập trùng/ Đà Lạt trời mây nước mênh mông/ Anh đã biết rồi, em ơi vì sao em tới/ Anh đã biết rồi em ơi, vì em yêu cuộc sống trên cao, có thông reo rì rào…”. Một số thi sĩ khác lại ấn tượng khó quên với những đóa hoa quỳ Đà Lạt: “Thành phố dốc đồi già theo người đi/ Hoa quỳ dại có bao giờ vàng thế/ Sao hoa quỳ buồn quá/ Hay chính ta buồn/ Tẩu thuốc nào để lại khói sương” (Tháng Mười, thành phố dốc đồi – Đỗ Trung Quân), “Chợt thấy đôi khi đời quá mệt/ Ta rủ ta lên núi rong chơi/ Cám ơn em đóa quỳ độ lượng/ Đã hồn nhiên mở cửa đất trời” (Chợt thấy – Mường Mán).

Thành phố của tình yêu

Ai đó đã nói rằng, người ta thường đến Đà Lạt với người yêu của mình. Đi chơi Đà Lạt ít khi đi một mình mà bao giờ cũng có đôi. Quả thực, cảnh đẹp nơi đây sẽ dễ khiến người ta yêu nhau hơn, như một thứ gia vị làm cho  tình yêu thêm nồng nàn, lãng mạn, đắm say: “Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ/ Màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ/ Từng đôi đi trên phố vắng/ Bước chân êm giữa không gian, hoàng hôn thua màn đêm” (Đà Lạt hoàng hôn, Nhạc và lời: Minh Kỳ - Dạ Cầm), “Rước em lên đồi cỏ hoang ngập lối/ Rước em lên đồi hẹn với bình minh/ Đôi chân xinh xinh như tình thôi khép nép/ Hãy vứt chiếc dép, bước đi ôm cỏ mềm” (Cỏ hồng – Phạm Duy). 

Và cũng bởi chính nơi đây đã từng mang nhiều giai thoại về những câu chuyện tình buồn, để từ đó tạo nên những thác Cam Ly, hồ Than Thở: “Đà Lạt ơi, có nghe chăng Cam Ly khóc tình đầu dang dở/ Đêm xuống, Than Thở vang cung hờn, thêm se sắt tâm hồn”. Mà chuyện tình yêu muôn đời đâu có thể nói trước điều gì, Đà Lạt vì thế vừa là nơi chứng kiến những hạnh phúc lứa đôi, vừa là nơi chứng kiến những nỗi đau, những biệt ly xa xót tâm hồn: “Thành phố buồn lắm tơ vương/ Cơn gió chiều lạnh buốt tâm hồn/ Và con đường ngày xưa lá đổ/ Giờ không em sỏi đá u buồn/ Giờ không em hoang vắng phố phường/ Tiếng chuông chiều chầm chậm thê lương/ Tiễn đưa người, quên núi đồi quên cả tình yêu” (Thành phố buồn – Nhạc và lời: Lam Phương).

Từ một cách thể hiện khác, thi sĩ Bùi Chí Vinh lại có những câu thơ thật phong trần, bụi bặm lãng tử với vẻ táo bạo gai góc rất riêng khi viết về Đà Lạt với bóng hình một người con gái mà anh yêu: “Trái tim tôi mọc một rừng thông khi ghé thăm Đà Lạt/ Em xô ngã tôi bằng trận gió ái tình/ Tôi sẽ hứng chịu sự -dịu – dàng – độc – ác/ Để những người đến sau tôi không chịu khổ vì em” (Mùa xuân của Alibaba), “Mất đến mười năm yêu Đà Lạt/ Mới quàng vai được những ngọn đồi/ Em có đi trên đồi không vậy?/ Sợ chạm vào em lại điếng người” (Mười năm đứng trước Đà Lạt). 

Nếu như Phạm Duy trong âm nhạc từng có một ca khúc “Cỏ hồng” viết ở Đà Lạt thì thi sĩ Đỗ Trung Quân cũng có một thi phẩm mang tên “Cỏ hồng” viết ở thành phố cao nguyên này trong nỗi niềm hoài niệm tiếc thương một tình yêu chỉ còn trong ký ức: “Con đồi dài như em còn ngoan/ Lòng ta rụng trái thông khô thảng thốt/ Ta qua dốc phía hoàng hôn tím ngắt/ Cỏ hồng xưa đổi sắc dưới chân mình/ Và ta buồn như mây trắng mông mênh/ Soi bóng suối – chú bé xưa ngồi khóc/ Công chúa nhỏ mang chùm hoa đi mất/ Tóc hiền ngoan theo gió lên trời”.

Đà Lạt sẽ còn mãi trong nỗi nhớ của những ai từng đặt chân đến nơi đây. Đà Lạt sẽ còn mãi với những kỷ niệm, những mối tình được làm chứng bởi bao cỏ hoa, những con suối, vạt đồi, hàng thông xanh in bóng. Và với những người từng có một tuổi thơ gắn bó với Đà Lạt rồi sau này cách xa, thì nỗi nhớ về nơi mình lớn lên mãi mãi nồng nàn trong trẻo như thuở ban đầu: “Này Đà Lạt ơi, tôi biết em từ thuở nhỏ/ Cùng em năm tháng, sưởi ấm nhau bằng môi khô… Này Đà Lạt ơi em đã trong tôi trọn một đời/ Để khi xa cách mới thấy cõi lòng chơi vơi…Này Đà Lạt ơi, suốt đời tôi sẽ yêu em/ Này Đà Lạt ơi, suốt đời tôi sẽ không quên…” (Tình yêu cho Đà Lạt – Nhạc và lời: Trịnh Nam Sơn).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).