Cổ mẫu “Trương Chi”

“Trương Chi” là một trong những truyện hay nhất của kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Hay đến mức trở thành cổ mẫu “đẻ” ra cho đời sau biết bao “truyện” Trương Chi khác.

Ở thời hiện đại ta thấy có hàng chục bài hát, hàng trăm bài thơ/kịch hát và nhiều truyện ngắn. Người ta gọi hiện tượng này là “viết lại”, vẫn nhân vật cũ nhưng được nhìn bằng góc nhìn mới, phú cho nhân vật những sức sống, quan niệm, ý nghĩa mới. Từ lý thuyết “liên văn bản” chắc sẽ khám phá ra nhiều mối liên hệ thú vị.

Hai câu ca dao tóm tắt thật cô đọng, khái quát mà nói lên được cả tình thế, hình thức nghệ thuật cơ bản của truyện: “Ngày xưa có anh Trương Chi/ Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay…”. “Thậm” có nghĩa là rất, là đầu mút của cực.

Ở đây là đầu mút của hai cực đối lập: quá xấu và quá hay. Dân gian đã gửi vào đấy triết lý về bi kịch: quá xấu về hình thức/ quá hay về nội dung. Quá nghèo về vật chất/ quá giàu về tinh thần. Quá si mê/ quá thất vọng… Dùng cái “quá” để triết lý về cái “vừa độ”, vừa đủ, vừa phải, “một vừa hai phải”…Tính cách Việt ưa cái vừa phải. Các câu cửa miệng người Việt hay nói “thái quá bất cập”, “già néo đứt dây”, “quá mù ra mưa”…Tức khuyên răn người ta làm việc gì, nói cái gì cũng vừa đủ, chừng mực…

Mỵ Nương tương tư tiếng sáo (tranh minh họa).
Mỵ Nương tương tư tiếng sáo (tranh minh họa).

Chưa thấy ai phát hiện cái sự “chênh” giữa câu ca dao trên và nội dung truyện. Ca dao nói Trương Chi “hát” nhưng trong câu chuyện thì Trương Chi thổi sáo. Tưởng là “chênh” nhưng đặt trong chủ đề mới thấy cái lý của nó: hát hay thổi sáo cũng chỉ là một, là nghệ thuật. Điều này càng nói rõ hơn chủ đề của truyện là nói về bi kịch của nghệ thuật.

Có nhiều bài hát nhưng nhiều người coi nhạc phẩm của Văn Cao thành công nhất, day dứt, đau khổ, nhưng đẹp, cái đẹp não nùng nhưng không não nề: “Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân/ hò khoan mơ bóng con đò trôi/ giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời/ Anh Trương Chi, tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung/ Anh thương nhớ/ Oán trách cuộc từ ly não nùng/ Đò trăng cắm giữa sông vắng/ Gió đưa câu ca về đâu/ Nhìn xuống đáy nước sông sâu/ Thuyền anh đã chìm đâu!...”.

Truyện kể rằng Mị Nương là một cô gái xinh đẹp, con của một vị quan đại thần. Sống trong cảnh nhung lụa nhưng là cảnh cấm cung như bị tù đày. Người cha thương con bèn xây riêng cho nàng một ngôi nhà nhỏ trên bờ sông để nàngngắm cảnh.

Một hôm nàng văng vẳng nghe một tiếng sáo trên dòng sông. Tiếng sáo khi bổng khi trầm, véo von, réo rắt như mê hoặc. Đó là tiếng sáo của Trương Chi-một ngư phủ làm nghề đánh cá. Oái oăm thay, chàng Trương Chi lại có thân hình cực kỳ xấu xí, xấu đến mức không ai dám chơi, không ai dám nhìn. Hình như thế mà tiếng sáo của chàng càng hay, thổn thức như tâm tình, như giãi bày, như than thở. Tiếng sáo ấy là tiếng lòng của người khát khao được trao gửi…

Quá say mê tiếng sáo, muốn gặp người thổi mà không được, vì là gái cấm cung, dần dần nàng sinh bệnh. Người nhà tìm đủ mọi phương thuốc nhưng bệnh tình ngày một nặng thêm. Cuối cùng có vị lang gần đó mách cha nàng nguyên do và cách chữa…

Là người cực kỳ khắt khe bảo thủ nhưng thương con mà cha nàng phá lệ lệnh cho mời Trương Chi đến gặp. Theo thói quen, chàng thổi sáo. Tiếng sáo càng lại gần, Mỵ Nương càng thảng thốt, như ngây như dại, càng muốn gặp “tri âm”…

Nàng sắp được gặp nghệ sỹ của lòng mình!

Nhưng trái ngang thay ông trời! Thấy Trương Chi quá xấu, nàng bủn rủn, thất vọng khủng khiếp đến mức ngất đi. Tỉnh dậy thì tự nhiên khỏi bệnh!

Còn chàng Trương được gặp Mỵ Nương đẹp như người giời lại trong cảnh phong gấm rủ là…thì chiếc sáo rơi xuống. Chàng quay cuồng choáng váng vì lưỡi búa phũ phàng của thần ái tình. Chàng yêu Mỵ Nương…!!!

Dĩ nhiên chàng phải quay về với thân phận ngư phủ. Nhưng từ đấy tiếng sáo càng hay, càng não nề, thổn thức vì trong đó neo gửi cả nỗi đau thất tình. Một nỗi đau ai oán, ngậm ngùi, sâu thẳm, quyết liệt, dai dẳng…

Hình như trong mỗi chàng trai chúng ta đều có một Trương Chi nên thấu hiểu và thấu cảm cho nỗi đau của chàng, thông cảm nỗi đau tận cùng của một trái tim bị tổn thương. Nhưng nàng Mỵ Nương (và cả phái đẹp!) thì không. Vì nàng tỉnh táo và vô tình! Nàng vẫn muốn nghe và chỉ yêu tiếng sáo đau khổ kia chứ không yêu người thổi. Nàng đã hoàn toàn khoẻ mạnh! Về phương diện này nàng thua công chúa Tiên Dung trong thần thoại “Chử Đồng Tử”, dù có lá ngọc cành vàng, con gái vua Hùng nhất nhì thiên hạ mà vẫn lấy làm chồng người nghèo đến mức không có cả cái khố để mặc! Đó là mối tình đẹp nhất trong văn học trung đại Việt Nam. Bình đẳng nhất. Dân chủ nhất. Còn mối tình Trương Chi-Mỵ Nương là mối tình bi kịch ngang trái nhất.

Bi kịch của Trương Chi không lối thoát, bế tắc. Hai người quá xa nhau. Người quá đẹp, kẻ quá xấu. Nàng quá giàu, chàng quá nghèo. Một người cao sang vương giả con quan, một kẻ thứ dân mạt hạng dưới đáy. Chàng quá si mê, nàng quá tỉnh táo …

Chàng trai nào đã như Trương Chi sẽ thấy cái chết của Trương là tất yếu. Vì không thể sống thiếu tình yêu. Dù là ngư phủ, ở dưới nước như ở trên cạn nhưng chàng vẫn trầm mình xuống sông mà chết, càng cho thấy cái chết ấy quyết liệt, dữ dội. Chàng chết thật, chứ không như nhà văn nổi tiếng nọ miêu tả có phần hơi “phũ” rằng chàng “trật quần đái vọt xuống sông” như một cách rủa đời, chửi đời!

Hồn Trương Chi vất vưởng rồi nhập vào một cây bạch đàn rất đẹp. Mỵ Nương thích quá sai chặt cây ấy về tiện thành chén uống nước. Mỗi khi rót nước chén toả mùi thơm thoang thoảng thật dễ chịu, hình bóng Trương Chi hiện ra dưới đáy. Tiếng sáo ở đâu lại văng vẳng. Mỵ Nương thảng thốt. Nàng thương mình, thương người. Nước mắt nàng ứa ra. Một giọt rớt vào chén. Chén gỗ bỗng tan ra thành nước!!!

Câu chuyện là cả một khối mâu thuẫn lớn. Trương Chi quá xấu về hình thức nhưng lại có tâm hồn thật đẹp bên trong. Có vậy mới có thể có tiếng sáo làm rung động trái tim Mỵ Nương. Nàng Mỵ Nương đang tuổi yêu đương hừng hực xuân tình lại bị cấm cung. 

Có thể coi đây là ý nghĩa lên án sự vô nhân đạo trong xã hội phong kiến cấm đoán xưa. Nàng tương tư người thổi sáo vì vừa bị tiếng sáo mê hoặc và trong tưởng tượng của nàng, tương ứng với tiếng sáo ấy phải là người tài năng mã thượng, đẹp trai công tử. 

Không nên trách sự thất vọng của nàng, vì đã là người ai cũng thích, yêu cái đẹp. Cũng không thể trách nàng không yêu Trương Chi. Vì tình yêu là tự do…Nàng là người đáng mến vì biết thưởng thức, đam mê nghệ thuật, là người đáng phục vì biết thẩm định nghệ thuật đích thực. Những người như thế, ít nhất cũng là người tử tế!

Bìa truyện “Trương Chi - Mỵ Nương”.
Bìa truyện “Trương Chi - Mỵ Nương”.

Chàng Trương Chi đáng kính, đáng trọng, đáng phục vì đó là một tài năng nghệ thuật. Có trái tim và tâm hồn nghệ sỹ như thế thì chàng yêu Mỵ Nương cũng là tự nhiên. Chàng yêu mãnh liệt cũng thuận tự nhiên. Nhưng chàng chết là trái tự nhiên nên đáng thương, đáng tiếc. Bật toát ra một chủ đề: ước ao con người không bị rơi vào bi kịch. Không có tình huống nào là đường cùng. Đừng như Trương Chi!

Dưới ánh sáng văn hoá học hiện đại, có thể hiểu truyện phát sáng thêm những ý nghĩa mới.

Một là, vượt lên trên câu chuyện của sự giàu nghèo, đây là câu chuyện về nghệ thuật. Nó muốn nói người Việt xưa, dù nghèo nhưng có tâm hồn thật nghệ sỹ. Nghèo như chàng đánh cá Trương Chi cũng có tiếng sáo chinh phục lòng người.

Hai là, minh hoạ cho định nghĩa của các nhà Nho: “Thơ (nghệ thuật) cùng dễ hay”. Thơ là tiếng lòng nên thơ của những người cùng khổ thì dễ hay, cảm động. Từ góc nhìn này cho thấy tuy là cổ tích nhưng truyện được nhuận sắc của các nhà Nho.

Ba là chứng minh quy luật sáng tạo nghệ thuật thường mang tính mâu thuẫn. Mâu thuẫn càng quyết liệt càng cho ra đời tác phẩm hay. Càng sa vào mâu thuẫn, tiếng đàn Trương Chi càng hay.

Bốn là, nghệ thuật đích thực là tiếng lòng chân thành của nghệ sỹ thì bao giờ cũng có “tri âm”, có người thưởng thức.

Năm là, nhu cầu đối thoại. Trương Chi sống “cấm cung” giữa cuộc đời, không giao tiếp được với ai nên tiếng sáo là hiện thân của khát khao đối thoại với cuộc đời. Đối thoại là gặp gỡ, chia sẻ, giãi bày. Khát khao gặp người thổi sáo tức Mỵ Nương cũng khát khao đối thoại. Không được như thế nên nàng ốm. Tình yêu là đối thoại. Không được yêu nên Trương Chi chết.

Sáu là, truyện cổ bao giờ cũng chứa những mã phong tục. Chi tiết nước mắt Mỵ Nương nhỏ vào cốc, cốc liền biến thành nước là phái sinh từ tục kiêng: người sống không được rỏ nước mắt vào người chết.

Hẳn nhiên là còn nhiều ý nghĩa nữa, xin mời bạn!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).