Cổ mẫu “lá” trôi trên dòng thời gian...

Dấu vết ngôn ngữ cho thấy từ thời xa xưa, chiếc lá đã được coi là biểu tượng cho con người. Các thành ngữ: “Lá rụng về cội” vừa chỉ quy luật tự nhiên vừa là bài học phải nhớ về nguồn cội; “Lá lành đùm lá rách” ý nói phải đùm bọc, cưu mang nhau trong lúc khó khăn; “Lá ngọc cành vàng” chỉ người con gái may mắn sinh ra trong gia đình giàu có…

Lại có cả người xấu “Lá mặt lá trái”… Ca dao có những câu xót lòng khi diễn tả một bi kịch, một nghịch lý đau đớn: “Lá vàng còn ở trên cây/ Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời”. Để chỉ hoàn cảnh người tài hiếm hoi, thì “Nhân tài như lá mùa thu”…

image003 copy.jpg -1
Tranh minh họa Adam và Eva kết lá che cơ thể.

Sách “Sáng thế” trong “Kinh Thánh” kể, Đức Chúa Trời tạo ra Adam từ cát bụi rồi đặt vào vườn Eden (địa đàng) để có thể ăn thỏa thích trái cây các loại, trừ cây tri thức về thiện ác. Đức Chúa lại tạo ra Eva từ một trong những chiếc xương sườn của Adam. Đấy là những vị tổ tiên hồn nhiên thánh thiện của loài người. Nhưng con rắn đã dụ dỗ Eva ăn trái cấm. Nàng lại đưa cho Adam… Được “ăn” tri thức nên họ bừng tỉnh tri giác. Mà tri giác đầu tiên là về sự xấu hổ. Thế là họ lấy lá cây kết lại thành khố để che…

Chung quanh huyền tích này, ít nhất có mấy ý nghĩa: Một là, con người ta chỉ khôn lên khi được tiếp thu tri thức. Hai là, phẩm hạnh đầu tiên cũng là nhận thức đầu tiên của con người là biết xấu hổ. Điều này gần gũi đạo Nho với khái niệm “vô liêm sỉ” tức không biết xấu hổ thì không phải là người. Ba là, khởi thủy “lá”, tức thiên nhiên cây cối che chở con người, nên nếu có “liêm sỉ” thì con người phải biết ơn tự nhiên, cây cối…

Sau này Đức Giêsu dạy các môn đệ: “Thầy là cây nho, các con là cành lá” tức tất cả đều thống nhất trong “cây vũ trụ”, cũng thống nhất như trong một cơ thể vậy. Lá cành tươi tốt nhờ thân cây cường tráng, khỏe mạnh và ngược lại. Cây nho phải nhờ cành lá mới có thể kết quả. Dễ hiểu sau này trong văn học, nghệ thuật phương Tây rất giàu có hình tượng cây nho, cành nho, lá nho, quả nho. Ngoài biểu hiện quy luật tự nhiên, còn là quy luật đời sống, xã hội, đạo đức, đạo lý…

Qua các dụ ngôn, “Kinh Thánh” còn răn dạy những bài học làm người thấm thía. Muốn cây nho nhiều quả cần phải cắt tỉa những cành lá gầy guộc, non bấy. Nhất là trong ba năm đầu chưa có trái, nho phải được tỉa thật sạch để phát triển tươi tốt. Con người cũng vậy, phải biết cắt bỏ những tính hư nết xấu để trong sáng, khỏe mạnh… “Dạy con từ thuở còn thơ”, trong mấy năm đầu đời, trẻ con như tờ giấy trắng, dạy cái gì dễ ăn sâu vào ký ức để trở thành ấn tượng đi suốt đời.

Cách nay gần 2.500 năm, tại Ấn Độ, Phật tổ ngồi dưới gốc bồ đề và ngộ ra giáo lý giải thoát đầy nhân bản. Bồ đề (Bodhi), trong các từ điển Phật học có nghĩa là giác ngộ, là trí tuệ, trí huệ để con người buông bỏ cái “tham, sân, si” thấp hèn mà vươn tới bầu trời Niết-bàn minh triết sáng láng. Từ đó về sau, vị trí cây bồ đề là một trong bốn nơi đầu tiên được ví như một trong bốn cây cột tâm linh nâng đỡ tòa tháp bảo vật tưởng nhớ Phật tổ. Cây bồ đề đi vào tâm thức chúng sinh Phật tử như là cây của học vấn, của sự “thức tỉnh”. Có hình dáng giống trái tim nên lá đề trở thành biểu tượng, một mã văn hóa kiến tạo nên những mô hình mang tính thiêng của đạo Phật, có nhiều nhất trong các di sản kiến trúc.

image001.jpg -0
Đức Phật tu tập dưới gốc cây bồ đề có lá hình trái tim.

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, hình tượng lá bồ đề rất phổ biến trong các chùa tháp thời Lý, Trần - thời kỳ Phật giáo được coi là quốc giáo. Đối sánh với các quốc gia khác, biểu tượng lá đề của ta có phần tinh tế, mềm mại hơn. Ở nhiều chùa, hình lá đề xuất hiện trong vòng hào quang tượng Phật, trong hình vòm cửa, trong hình dáng một số đồ nghi lễ...

Theo nhiều nghiên cứu kiến trúc, biểu tượng lá đề mang tính mô phỏng hình ảnh thực với mũi lá nhọn, phình to phần giữa, thu vào rồi hơi thót phần giáp cuống.Thời Lý, lá đề có mô hình nhỏ nhưng đến thời Trần mô hình lớn hơn nhiều, được trang trí thêm hình ngọn lửa ở vị trí các đường diềm của lá. Ngọn lửa luôn tỏa sáng hay Phật pháp tỏa sáng soi đường cho chúng sinh đi trên con đường Giác ngộ, thật ý nghĩa.

Cổ mẫu “lá” trôi vào dòng văn học viết (Trung Hoa) được mở rộng về nghĩa. Trong “Tây du ký” có hình tượng cây quạt ba tiêu thần thánh có công năng kỳ diệu biến to thu nhỏ, quạt một cái thì lửa tắt, quạt hai cái thì gió nổi, quạt ba cái thì mưa xuống. Gọi là “ba tiêu”, vì “ba tiêu” có nghĩa là cây chuối, quạt giống với tàu lá chuối nên gọi ba tiêu. Theo ngũ hành, cây chuối thuộc âm, kỵ dương nên quạt này dùng dập lửa Hỏa Diệm Sơn. Thì ra, cây lá không chỉ gần gũi, nuôi sống con người, còn giúp con người thoát nạn thiên tai. Từ đó, đến nay không ít người dân Trung Hoa dù dùng quạt nhỏ làm bằng lá cọ, cũng gọi là “quạt ba tiêu”.

Lá còn để chỉ sự trôi chảy của thời gian: “Ngô đồng nhất diệp lạc/ Thiên hạ cộng tri thu” (Một lá ngô đồng rụng/ Thế là thu đã sang). Chảy vào văn học Việt Nam, hình tượng lá dừng lại, nghiêng ngửa, đa diện, biến ảo nhiều nhất trong “Truyện Kiều” (16 lần – theo “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh). Ấn tượng hơn cả là “lá thắm” (“Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh”, “Dầu khi lá thắm chỉ hồng”), lấy tích từ chuyện Vu Hựu đời Đường nhặt được trên dòng sông chiếc lá thắm có đề bài thơ hay. Chàng đem về cất đi. Về sau chàng nên duyên với Hàn Thị, vốn là một cung nữ - tác giả bài thơ. Thì ra “lá thắm” như là định mệnh gắn kết đời nàng và đời chàng. Đi vào đời sống, “lá thắm” chỉ người mai mối lương duyên.

Đến thời hiện đại, hình ảnh “lá rụng” trong thơ Bích Khê làm nới rộng thêm về không gian: “Ô hay! buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”. Một chút ngạc nhiên, sững sờ khi thấy “vàng rơi” tức những lá ngô đồng màu vàng cuối thu làm xao xuyến không gian, xao xuyến cả lòng người. Một âm thanh của lá rơi, của bước chân con nai vàng trong thơ Lưu Trọng Lư làm ngỡ ngàng cả một thế hệ: “Em không nghe mùa thu/ Lá khô rơi xào xạc/ Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp lên lá vàng khô”. “Lá vàng” trong thơ Chế Lan Viên gợi nên những tiếc nuối hoài niệm buồn thánh thiện: “Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng”…

Hình ảnh “Những luồng run rẩy rung rinh lá…” trong thơ Xuân Diệu chắc còn làm “rung rinh” nhiều trái tim nghệ sĩ. “Lá rụng” nhiều nhất trong mảnh vườn Thơ mới góp phần tạo nên một nét cảm quan mỹ học về cái đẹp chia ly. Đến thời hiện đại thì ít hơn nhưng cũng không kém phần tinh tế. Hình tượng chiếc lá rụng trong thơ thi sĩ Trần Hòa Bình như một lực hút thẩm mỹ chuyển đổi cảm giác không gian: “Thêm một chiếc lá rụng/ Thế là thành mùa thu” (“Thêm một”). Ấn tượng hơn cả là “chiếc lá” của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại: “Người vá trời lấp bể/ Kẻ đắp lũy xây thành/ Ta chỉ là chiếc lá/ Việc của mình là xanh” (“Lá xanh”). Cái thế đối lập làm bật ra triết lý: hãy vui vẻ với chức phận mình, tri túc. Có thể là vô danh, nhỏ nhoi nhưng bất tử!

Một nhà văn người Mỹ - ông O. Henry, để lại dấu ấn sâu sắc cho văn chương nhân loại một truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” viết về lòng nhân ái cao cả, cảm động giữa những số phận nghèo khổ. Cô Giôn-xi mắc căn bệnh sưng phổi. Nàng bi quan đến mức ngày ngày đếm lá thường xuân ngoài cửa sổ và tin rằng chiếc lá cuối cùng rơi cũng là lúc mình sẽ chết. Biết điều ấy, cụ Bơ-men – một họa sĩ già, trong đêm tuyết dữ dội đã tạo nên một kiệt tác: vẽ lên một chiếc lá xanh trên tường. Cứu sống Giôn -xi, chiếc lá thường xuân ấy trở thành biểu tượng vĩnh cửu về sức mạnh của nghệ thuật, về tình yêu thương, niềm lạc quan sẽ cứu giúp con người, đưa họ từ nơi vực thẳm tối tăm trở về nơi rực rỡ ánh sáng của tình người.

Cho đến hôm nay vẫn có nhiều nước tôn vinh hình ảnh chiếc lá bằng cách in trên quốc huy, quốc kỳ, đồng tiền… Tiêu biểu là lá cờ của Canada được thiết kế lá phong ở chính giữa hai phông màu trắng đỏ.Vì hình ảnh cây phong với sắc đỏ vàng nổi bật là một trong những hình ảnh xinh đẹp và ấn tượng nhất của quốc gia này. Không chỉ làm đẹp cảnh quan đất nước, thu hút khách du lịch, cây phong còn mang những giá trị văn hóa, lịch sử, kinh tế lớn. Trở thành hình tượng trung tâm của văn học, nghệ thuật, của tôn giáo, của các lễ hội…, cây phong còn cho nhựa để làm siro và đường có giá trị cao, được thế giới ưa chuộng.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).