Có hai chú Cuội!

Không phải thời hiện đại hôm nay mới có sự nhầm lẫn giữa hai chùm truyện  “Sự tích chú Cuội” và “Nói dối như Cuội”, mà đọc trong các sách truyện xưa tích cũ, nhất là ở mảng khảo dị vẫn thấy một vài chi tiết lẫn vào nhau trong hai cốt truyện. Nhân vật cùng tên Cuội nhưng nội dung thì khác hẳn.

“Sự tích chú Cuội” giải thích vì sao trên cung trăng có hình người ngồi dưới gốc cây đa bằng một câu chuyện đầy tính nhân văn: chú Cuội vào rừng biết được bí mật hồi sinh của con hổ bằng lá từ một cây thuốc. Cuội đem về nhà trồng cứu được nhiều người, cứu được cả vợ đã chết. Nhưng từ đó vợ Cuội đãng trí quên lời chồng để cho cây thuốc bay lên trời. Cuội tiếc quá bám chặt vào gốc cây. Cây bay lên cung trăng hàng năm chỉ rơi một lá xuống biển Đông.

Cái vỏ truyện là để cắt nghĩa một hiện tượng tự nhiên nhưng thẳm sâu một cái lõi ý nghĩa là khát vọng tái sinh, hồi sinh của con người. Là anh nông dân lao động hiền hậu chất phác hay giúp đỡ người nghèo, từ tay trắng Cuội có tất cả, gia đình, nhà cửa... nhờ cây thuốc quý. Cũng vì nó mà anh ta vĩnh viễn ở trên cung trăng để mọi người chiêm ngưỡng, ngắm nhìn. Đấy là cách dân gian vĩnh cửu hóa cái tốt, người tốt cũng là vĩnh cửu hóa cái khát vọng trường sinh.

Ngày xưa các bậc vua chúa cho người vượt biển xa, núi cao, rừng sâu tìm phương thuốc bất tử. Đó là chuyện có thật trong lịch sử. Còn dân gian, với triết lý khỏe khoắn, thực tế thì cây thuốc chỉ có ở trên trời như nói rằng muốn bất tử thì chỉ có cách “lên trời” mà thôi!!!

image003.png -0

Ngày nay từ cái nhìn phê bình sinh thái học hiện đại có thể thấy truyện còn là bài học về sự hòa hợp con người với tự nhiên, biết ơn tự nhiên... Những con thú hoang dã chính là loài nắm giữ bí mật của tự nhiên nên con người phải biết tôn trọng chúng. Phải biết chăm sóc, giữ gìn, bảo vệ tự nhiên, nếu không chúng sẽ bỏ đi. Chỉ một hành động vô tình vợ Cuội đái vào gốc cây thuốc, thế là nó bay mất. Huống hồ các hành vi tàn nhẫn khác... Những chi tiết ấy giáo dục trẻ em thật giản dị mà thấm thía!

Đấy là cổ tích, còn ca dao lại tạo ra một không gian khác tuân theo kết cấu nghệ thuật thể loại của riêng nó: “Thằng Cuội ngồi gốc cây đa/ Để trâu ăn lúa gọi cha ời ời/ Cha còn cắt cỏ trên trời/ Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên/ Ông thì cầm bút, cầm nghiên/ Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa”. Vì là đồng dao vần vè nên đừng bắt bẻ chữ nghĩa, hình tượng... vì mục đích của nó là “cho vui vẻ!”. Nhưng cũng cho thấy một “thằng Cuội” thật dân gian, gần gũi, sớm phải đi làm (chăn trâu) và rất mải chơi!!!  

Những cổ tích tương tự như truyện chú Cuội ngồi gốc cây đa có ở mọi nền văn hóa. Những cổ mẫu ấy theo con đường “liên văn hóa” đẻ ra những văn bản “mẫu con”, như bài thơ “Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà: “Đêm thu buồn lắm! Chị Hằng ơi!/ Trần thế em nay chán nửa rồi/ Cung quế đã ai ngồi đó chửa?/ Cành đa xin chị nhắc lên chơi/ Có bầu, có bạn, can chi tủi/ Cùng gió, cùng mây, thế mới vui/ Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám/ Tựa nhau trông xuống thế gian cười!”. Các hình tượng “chị Hằng”, “cung quế” có từ văn hóa Trung Hoa, “thằng Cuội”, “cành đa” là “phái sinh” từ cổ tích Việt. Trong văn học nghệ thuật hiện đại nếu liệt kê cũng có tới hàng trăm bài thơ, hàng chục bản nhạc lấy cảm hứng từ hình tượng chú Cuội này!

Đi kèm với cổ tích “Nói dối như Cuội” là các thành ngữ: “Nói dối như cuội”, “Nói nhăng nói cuội” để chê bai những kẻ ăn nói linh tinh, dối trá. Truyện kể Cuội mồ côi cả cha lẫn mẹ phải đi ở với chú thím. Từ nhỏ Cuội đã nổi tiếng láu lỉnh và lừa người rất giỏi. Một trọc phú không tin gọi đến bảo: Mày lừa tao ra ngoài cổng sẽ thưởng năm quan. Cuội nói ông ngồi đây sẵn, lại chủ ý đề phòng thì làm sao mà lừa được. Nếu ông ra ngoài cổng tôi mới lừa được. Ông ta làm theo. Đợi thế Cuội hét toáng lên: “Thế là lừa được ông rồi”!!!

Những chuyện tương tự như thế có nhiều chứng tỏ Cuội ta lém lỉnh, thông minh thật. Cuội lừa các quan, lừa nhà giàu nhưng cũng lừa cả những người nghèo, thậm chí nhẫn tâm lừa cả người hủi chết thay mình. Cuội lừa cả người thân là chú thím đã nuôi mình... Cú lừa cuối cùng lớn nhất là lừa vua. Cuội lừa cho con voi chết rồi lừa cả đàn chim chui vào bụng voi. Cuội trèo lên lưng voi để đàn chim vỗ cánh đưa voi bay lên trời. Cuội “hạ” xuống sân rồng. Cả vua và quần thần tưởng là người trời bèn tế Cuội như tế sao. Cuội lừa đổi hoàng bào rồi cho vua bay lên trời “ngắm cảnh”. Cuội nghiễm nhiên ngồi vào ngai vàng...

Như vậy truyện này khác hẳn với chuyện Cuội ngồi gốc cây đa!

Thằng Cuội này đáng trách, đáng chê nhiều hơn là đáng khen. Nó giống với Trạng Lợn ở chỗ may mắn nhưng nhân tính, ứng xử không bằng Trạng Lợn. Nó được kể ra để làm bài học cho trẻ con: không hay gì cái chuyện dối người, lừa người, hại người. Theo con đường “vô thức” hình tượng thằng cuội rơi vào và có lẽ còn sống mãi trong cuộc sống hiện đại. Khi nói về ai đó (nhất là trẻ trai) có hàm ý dè bỉu người ta sẽ nói: “Loại cuội!”, “Dối như cuội!”, “Nhăng nhít như cuội!”... Như một hình tượng mang tính phổ quát, “thằng cuội” có trong mọi nền văn hóa, dĩ nhiên có cái tên khác, thành phần xuất thân khác, nhưng về tính cách thì đại để giống nhau. Dân gian miền núi Trung bộ thì thêm nhiều tình tiết Cuội lừa cả hổ, cả voi... Cuội vào rừng chặt mây gặp hổ, hổ hỏi để làm gì, Cuội đáp vì sắp lụt to, chặt về treo họ hàng lên cây kẻo chết đuối. Hổ khẩn khoản nhờ treo cả họ hàng nhà mình...

Có hai chú Cuội -0

Như thỏi nam châm, theo thời gian, cốt truyện hút vào nó nhiều tình tiết thấy phù hợp. Nhiều khảo dị kể Cuội lừa chú thím bán lợn rồi cắm đuôi xuống đất nói lợn chui xuống đất. Chi tiết này có từ chùm truyện về sự tích vua Đinh Tiên Hoàng lúc nhỏ chăn trâu cho người chú, vua giết trâu đãi các bạn rồi cắm đuôi vào khe đá về báo chú là trâu chui xuống âm ty. Chú lên núi nắm đuôi trâu kéo bị ngã ngửa... Truyện dân gian Ja-rai (Tây-nguyên) và Khơ-me… cũng có nhân vật tương tự với các tình tiết gần giống với chuyện Cuội người Kinh. Xét kỹ nhân vật Thơ-mênh Chây của người Khơ-me có bóng dáng cả hai nhân vật Trạng Quỳnh và Cuội. Ví dụ vua thách Thơ-mênh Chây lừa được mình. Chây đáp: “Việc lừa của tôi là nhờ vào một quyển sách nói dối. Nhưng quyển sách lại để ở nhà. Có nó mới lừa được vua”. Vua sai Chây về lấy. Chây nói đau chân. Vua sai viên quan về lấy không có. Vua nổi giận. Chây ung dung đáp: “Vậy là tôi đã lừa được nhà vua rồi!”...

Hầu như mọi dân tộc đều có loại truyện “thằng cuội” này. Ở châu Âu nó còn đi vào văn học và hình thành hẳn một thể tài có tên tiểu thuyết bợm nghịch (picaresque novel). Loại nhân vật “bợm nghịch” (pícaro tiếng Tây Ban Nha) trong tiểu thuyết thường xuất thân hạ lưu, ưa phiêu bạt mà trở thành những tên “bợm” thông minh, giỏi lừa gạt... Ở ta hình tượng Xuân Tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng có lẽ sống mãi vì có cái nguồn gốc “xuất thân” từ trong dân gian. Cơ bản hơn là nó có xu hướng kết tinh nhiều đặc trưng của các nhân vật cùng loại. Trong cấu trúc nhân vật này có thằng Cuội, có thằng Bờm, có Thơ-mênh Chây, có cả Trạng Lợn, Trạng Quỳnh, lại có dáng dấp cả nhân vật “bợm nghịch” phương Tây. Có thể có phản biện cho rằng với Xuân Tóc đỏ thì tác giả của nó không chịu ảnh hưởng phương Tây. Nhưng đặt trong hoàn cảnh tiếp biến văn hóa Việt – Pháp rầm rộ thời Vũ Trọng Phụng sống thì thấy nhận định trên có căn cứ. Nhà phê bình Hoài Thanh chẳng đã từng nói mỗi nhà thơ Việt đội trên đầu dăm bảy nhà thơ Pháp đó sao!?

Nhưng ít nhất hình tượng thằng cuội bước vào trang văn của hai người nổi tiếng. Về thơ, Nguyễn Khuyến với bài “Vũng lội đường Ngang” (1878), có những câu: “Đầu đường Ngang có một chỗ lội/ Có miếu ông Cuội cao vòi vọi/ Đàn bà đến đó vén quần lên/ Chỗ thời đến háng, chỗ đến gối/... Cho nên làng ấy sinh ra người/ Sinh ra dặt những thằng nói dối”. Dựa trên sự kiện có thật ở quê nhà thơ có con đường người ta không sửa thành lầy lội, lâu ngày thành vũng. Gần đó có cây đa, dưới gốc có đống đất to hình thằng cuội nên gọi “đống ông Cuội”. Nhà thơ phê phán cả quan cả dân đều là “cuội” cả vì nói sửa mà không làm để dân khổ!

 Thời hiện đại, Lê Lựu có hẳn một tiểu thuyết hay có tên “Chuyện làng Cuội” (1993) với cảm hứng phê phán những chuyện “cuội” mang tính bi kịch của một làng nọ từ sau 1945. Một giọng kể châm biếm cùng tài năng kiến tạo những hình tượng nghịch dị nhà văn đã phơi trần mặt trái của quyền lực, nhất là quyền lực lại được trao cho những kẻ dốt nát...Tác phẩm mang tính giáo dục và dự báo cao!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).