Cố đô Huế thu nhỏ giữa lòng phương Nam

Di cư vào TP. Thủ Đức đã mấy chục năm nay, ông Nguyễn Thanh Tùng và cha mẹ vẫn khôn nguôi nỗi hoài nhớ xứ Huế mộng mơ. Để cha mẹ luôn thấy quê hương bên mình, ông đã mất nhiều năm trời để tái hiện hình ảnh cố hương ngay giữa sân vườn lung linh bóng nắng...

Nhà của gia đình ông Tùng nằm ở đường Hoàng Hữu Nam, TP. Thủ Đức. Ghé thăm nhà, không khó để khách lạ có thể đoán chủ nhân là người con đất Thần Kinh. Ngôi nhà mang dáng dấp đặc trưng của nhà rường Huế. Trước nhà là khu vườn rộng khoảng 1.000 mét vuông mang tên Ngự Lãm Viên. Đó là nơi ông Tùng trồng nhiều cây cảnh, loài hoa và thiết kế các công trình mang đậm kiến trúc nhà vườn Huế. Khu vườn có mái che thưởng trà nằm nép mình dưới rặng liễu buông mành, có chiếc cầu cong cong nho nhỏ vắt mình qua con lạch nước chảy êm đềm… Tất cả gợi không khí kinh thành đầy thanh tịch, trầm mặc.

1 mo hinh hue thu nho.jpg -0
Mô hình Cố đô Huế thu nhỏ là điểm tham quan miễn phí tại Thủ Đức thu hút giới trẻ đến tìm hiểu văn hóa, lịch sử Huế.

Nổi bật nhất của Ngự Lãm Viên chính là mô hình di tích cố đô Huế thu nhỏ. Mô hình được làm bằng đá, xây dựng theo tỷ lệ 1/700. Nơi đây có hơn 150 kiến trúc nằm nép mình dưới những cây kiểng xanh mát. Đại nội Huế được thiết kế đầy đủ với cung điện của vua, cung hoàng hậu, các phi tần kết hợp với hồ, vườn, bờ tường, lối đi san sát nhau và rất chắc chắn. Những kiến trúc nổi tiếng như cổng Ngọ Môn, điện Thái Hoà, vườn Cơ Hạ, Kỳ Đài, Hiển Lâm Các, điện Cần Chánh, cung Trường Sanh, phủ Nội Vụ, Duyệt Thị Đường, điện Phụng Tiên... được tái hiện như nguyên mẫu thực. Xuôi theo dòng Hương giang là những công trình mô phỏng nổi tiếng của xứ Huế như cầu Trường Tiền, Phu Văn Lâu, đình Thương Bạc, chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, cồn Hến… Ngoài ra, lăng tẩm các vị vua triều Nguyễn như lăng Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Minh Mạng, Khải Định… cũng được chủ nhân tái hiện tỉ mỉ. Tất cả giúp người xem hình dung bao quát về quần thể di tích cố đô.

Những công trình này không chỉ được thể hiện y như thật mà còn được bố trí đúng hướng Đông – Tây - Nam - Bắc như nguyên mẫu ngoài đời. Người ta ngạc nhiên khi ông Tùng cố công thiết kế sao cho dòng sông Hương thu nhỏ có hướng chảy, khúc uốn lượn giống với con sông Hương thật. Độ tinh xảo được chủ nhân làm cầu kỳ đến từng chi tiết nhỏ như mái ngói, rồng phượng, khẩu pháo, cửu đỉnh… với đường nét chạm trổ tinh tế, những đường cong uốn lượn nhẹ nhàng thanh thoát. Chủ nhân còn lắp thêm đèn điện trong mỗi kiến trúc. Đêm đến, cả mô hình sáng rực. Cung điện, thành quách, lăng tẩm, lâu đài… bỗng trở nên lung linh huyền diệu.

Là tiến sĩ trong ngành viễn thông, ông Tùng khiến nhiều người ngạc nhiên bởi ai cũng đinh ninh cha đẻ của công trình này phải là một nhà nghiên cứu văn hóa Huế thực thụ. Bởi chỉ có nhà nghiên cứu văn hóa mới am hiểu tường tận về kiến trúc, lịch sử cố đô đến thế. Nghe thắc mắc, ông cười, mắt hướng về song thân: “Chính mong mỏi của cha mẹ và tình yêu Huế da diết là điều thôi thúc tôi lao tâm khổ tứ, quyết thực hiện bằng được công trình cầu kỳ này”.

Năm 10 tuổi, Tùng đã phải rời quê hương để theo cha mẹ vào Nam lập nghiệp. Xứ Huế mộng mơ, yên bình trong điệu nam ai, nam bằng đã in dấu vào lòng cậu bé. Những chiều cùng cha, cùng mẹ nhịp nhịp bước chân trên con đường cố đô, nhìn ngắm phố phường như mới hôm nào. Hành trang vào phương Nam là lòng hoài nhớ cố hương da diết. Tùng biết, nỗi nhớ ấy sao sánh được với nỗi lòng xa quê đau đáu của cha mẹ mình. Bươn chải mưu sinh, khi mái tóc trên đầu đã ngả sang màu mây, ông bà mới chợt thảng thốt khi đường về quê xa ngái mà chân mình đã mỏi, gối mình đã chồn. Biết có kịp nhìn lại cố hương khi nhắm mắt xuôi tay. Nỗi trăn trở ấy quặn thắt, rồi thành tâm bệnh khi nào không hay. Phận làm con, nhìn cha mẹ chiều chiều run run bước ra ngỏ dõi trông về phương Bắc xa xôi, lòng ông Tùng nghe như xát muối. Để các cụ an lòng, ngày ngày được nhìn thấy quê hương, ông Tùng bắt tay xây dựng công trình Huế thu nhỏ ngay giữa sân nhà.

2 mot kien truc.jpg -0
Một số kiến trúc của mô hình cố đô Huế thu nhỏ.

Năm 2000, ông Tùng cất công về lại quê hương, tìm gặp bằng được những nghệ nhân am hiểu nghệ thuật kiến trúc Huế. Sau khi thiết kế xong, việc xây dựng gặp không ít khó khăn. Lúc đầu ông thử làm mô hình lăng tẩm, thành quách Huế bằng gỗ trát xi măng bên ngoài. Tuy nhiên, khi đưa vào sử dụng thử nghiệm thì trời nắng khiến gỗ bị giãn nở,  mối mọt nên mau chóng bị hư hại. Biết bao mồ hôi, công sức đổ xuống sông xuống bể nhưng ông không nản. Ông cố thử đi thử lại một số loại vật liệu nữa nhưng chỉ được vài tháng là bị xuống cấp. May sao một nghệ nhân bày cách lấy đá Bửu Long - Biên Hòa xay mịn ra rồi đúc từng kiến trúc bằng khuôn silicon. Đá Bửu Long rất bền chắc, chịu đựng được mọi điều kiện thời tiết khắc nghiệt nên công trình nào làm bằng loại đá này đều có thể tồn tại đến trăm năm.

Trong quá trình thực hiện, cổng Ngọ Môn, Kỳ Đài, Hiển Lâm Các là ba công trình khó thực hiện nhất vì nhiều chi tiết đòi hỏi phải chạm trổ rất tinh vi, cầu kỳ. Nhiều nghệ nhân lão làng được ông mời từ xứ Huế vào tận nhà trợ giúp phải lắc đầu vì chạm trổ cho những kiến trúc nhỏ tí xíu như thế mất rất nhiều thời gian và công sức. Có người ước chừng phải mất 10 năm mới hoàn thành được mô hình. Nhưng thấy được nghị lực và tấm lòng hiếu thảo của ông Tùng, họ đã ở lại để bám trụ cho đến ngày công trình được khánh thành.

Mất bảy năm trời ông Tùng kiên trì tìm tòi nghiên cứu và xây dựng, cuối cùng công trình cũng hoàn thành trong giọt nước mắt reo vui của song thân. Đã hơn 10 năm xây dựng, nắng mưa thời gian không hề làm hư hại mà còn giúp lớp đá của các kiến trúc càng thêm phần cổ kính, rêu phong, trầm mặc. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, điểm thú vị của mô hình này là sự tái hiện toàn bộ công trình hoang phế hoặc bị tàn phá do chiến tranh như vườn Cơ Hạ, điện Kiến Trung, điện Cần Chánh…

Từ ngày có mô hình này, ngày nào cha mẹ ông Tùng cũng dậy thật sớm để ngắm nhìn cố hương dưới ánh bình minh ló dạng. Rảnh rỗi, hai cụ lại nhổ cỏ, chăm tỉa cây cảnh và tu sửa những kiến trúc bị hư hại. Ông Tùng tái hiện di tích cố đô không chỉ để mẹ cha được ngắm Huế mỗi ngày mà còn giúp cho họ hàng, con cháu trong gia đình hiểu về truyền thống quê hương, văn hóa cội nguồn. Ngày công trình khánh thành, bà con họ hàng đến tham quan rất đông. Nhìn ngắm từng tòa nhà, lăng tẩm…, họ kể cho con cháu nghe về lịch sử, về những câu chuyện thú vị xoay quanh kiến trúc đó.

Ngự Lãm Viên cũng là điểm đến miễn phí quen thuộc của nhiều du khách để tìm hiểu nét đặc sắc của văn hóa, lịch sử, kiến trúc xứ Thần Kinh nếu chưa một lần đến Huế. Đến nay, gia đình ông Tùng đã đón hàng trăm ngàn lượt khách trong và ngoài nước ghé thăm. Đặc biệt, điều ông và gia đình tâm đắc nhất chính là “Huế thu nhỏ” đã và đang trở thành giáo cụ trực quan cho các em học sinh, sinh viên. Mỗi khi đón đoàn học sinh, sinh viên đến tham quan, tìm hiểu, ông Tùng vui lắm. Vui bởi mong ước sẻ chia, truyền đạt lịch sử, văn hóa quê hương đang được lan tỏa đến thế hệ mai sau.

Phan Thi Uyên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).