Chuyện xưa: Học trò và hổ!

Người xưa luôn gửi vào hình tượng học trò bao ước mơ, khát khao về sự thông minh, thành đạt, tốt đẹp, viên mãn. Chung quanh nhân vật này có nhiều câu chuyện được thêu dệt lóng lánh những sắc màu ý nghĩa văn hóa. Xin tìm hiểu mối quan hệ học trò với hổ. Giữa hai hình tượng tưởng như xa nhau nhưng lại có nhiều mối liên hệ!

"Người học trò và con hổ" - Hay lòng tốt không dành cho kẻ ác

Ngụ ngôn Việt Nam kể, một con hổ bị sập bẫy, thấy người học trò đi qua, hổ cầu xin: “Cứu tôi với, tôi sẽ biết ơn cậu suốt đời!”. Người học trò mở bẫy cứu hổ. Vừa thoát ra ngoài, hổ trở mặt đòi ăn thịt ân nhân. Hai bên cãi nhau. Thần Núi đến hỏi: “Chuyện gì rắc rối, kể lại để ta phán xử”. Người học trò kể lại đầu đuôi. Hổ cãi: “Nói láo! Tôi đang ngủ ngon thì nó đánh thức. Tôi phải ăn thịt nó!”. Thần Núi nói: “Hổ to thế kia mà ngủ được ở chỗ hẹp này sao? Không tin. Thử nằm lại vào chỗ đó ta xem!”.

image003.jpg -1
Hình tượng hổ trong vở tuồng “Thoại Khanh - Châu Tuấn”.

Hổ bèn chui vào bẫy để chứng minh lời mình nói. Chờ thế, thần Núi hạ cần bẫy xuống, nói: “Đồ vô ơn. Hãy nằm đó mà chờ chết!”. Một câu chuyện ngắn nhưng đủ tình huống, nhân vật, tình tiết, ngôn ngữ của một vở kịch có cao trào, thắt nút, mở nút, để bật ra bài học: Cần phải đặt lòng tốt đúng chỗ. Nếu trao lòng tốt, niềm tin vào tay kẻ độc ác, gian trá thì hậu quả rất nguy hiểm sẽ đến sớm. Còn là quy luật nhân quả ở ác gặp ác. Kẻ tham ác do tâm hồn đen tối, chỉ nghĩ đến miếng ăn, miếng lợi trước mắt, nên cái nhìn cũng luôn tăm tối, thiếu tỉnh táo.

"Con cọp ở Triệu Thành" - Những vẻ đẹp nhân văn!

Trong tập "Liêu trai chí dị" của Bồ Tùng Linh (1640-1715) có truyện "Con cọp ở Triệu Thành" rất đáng suy nghĩ. Bà già góa ở huyện Triệu Thành hơn bảy mươi tuổi chỉ có một người con trai là học trò giỏi, tương lai đầy hứa hẹn, chẳng may bị cọp vồ chết. Bà kiện tới quan huyện. Quan cố giải thích không thể lấy phép quan mà trị tội vật hoang dã được. Bà già vẫn không chịu, càng kêu khóc thảm thiết.

Thương bà già cả, quan bèn hứa đại sẽ bắt cọp trị tội, để bà về cho đỡ mệt. Nhưng bà vẫn không về, đòi phải nhìn thấy trát lệnh bắt cọp mới chịu đi. Quan đành hỏi các nha dịch ai đi. Một người lính lệ đồng ý và xin quan hạ cho các thợ săn trong huyện đi cùng. Không bắt được cọp, anh lính bèn tới Nhạc miếu (nơi thờ thần Hổ) chắp tay quỳ xuống... Bất chợt một con cọp từ ngoài đi vào, ngồi xuống bên cạnh. Anh lính nói nếu đúng ngươi giết con trai bà già kia thì cúi đầu cho ta trói. Con cọp cúi đầu.

Về huyện đường, quan huyện phán: “Pháp luật xưa nay giết người thì phải đền mạng. Bà già kia chỉ có một đứa con trai là học trò giỏi, làm thế nào để bà sinh sống. Nếu ngươi làm con bà, thì ta tha”. Cọp gật đầu… Sáng hôm sau, mở cửa thấy con hươu chết nằm ở sân, bà già liền đem bán thịt. Từ đó thành lệ, không chỉ mang thú rừng về, có lần cọp còn mang vàng lụa tới. Nhờ vậy bà sống đỡ khó khăn… Vài năm sau bà chết, cọp tới kêu gào thảm thiết trước phần mộ, hồi lâu mới đi. Dân làng thấy cọp có nghĩa bèn lập đền thờ “Nghĩa Hổ”, đến nay vẫn còn…

Truyện nêu lên những ý nghĩa mang tính giáo huấn thấm thía về đạo đức, đạo lý. Là loài thú dữ, hung ác, “ăn thịt người”, thế mà cọp còn biết “phục thiện”, còn biết “tuân theo” “luật pháp”. Huống nữa là con người. “Phục thiện” ở chỗ “dám làm dám chịu”, gây ra tội không trốn tránh mà đàng hoàng đến “công đường” nhận xét xử. Không phải “đền mạng” nên cọp ta “hết lòng hết sức” “thi hành án” (bản án lương tâm) bằng cách “nuôi dưỡng”, “thờ phụng” bà già…

Soi vào “công đường” thời hiện đại, quả là có không ít kẻ (thậm chí học rộng biết nhiều, quyền cao chức trọng) mà không đủ “nghĩa” (khí) bằng cọp, và thiếu cả “nghĩa” (tình) như cọp. Đại diện cho công lý pháp luật là viên quan huyện cũng thật nhân văn. Không hề cao giọng. Không hề cậy chức trọng quyền cao. Mà rất bình dân, gần dân, vì dân. Ông ta thấu hiểu cảnh đời, thấu cảm tình người. Hiểu cảnh người mẹ già hơn bảy mươi chết con, tức mất điểm tựa cuối cùng.

Với người phụ nữ thì chồng chết theo con. Con (độc nhất) chết, nghĩa là mất hết. Hơn nữa lại đã già. Thế nên quan huyện tìm mọi cách, kể cả đi “chệch” ra ngoài đường biên luật pháp để an ủi, giúp đỡ. Đối với “nguyên đơn”, với “bị cáo” ông đều lấy cái tình đặt lên trước cái lý. Một vị quan huyện như vậy, thật đáng kính trọng thay. Thế nên, “hung ác như hồ”, “dữ như hổ”, mà… vẫn “gật đầu”. Huống nữa là người có hiểu biết!? Câu chuyện còn là khát vọng về những “viên quan huyện” không hề “mặt sắt” mà ngược lại, là người hiểu đời, hiểu người với trái tim nhân ái!

Những con cọp trượng nghĩa

Ở ta, trong nhiều truyện Nôm nói về học trò nghèo cũng luôn gắn liền với nhân vật hổ. Trong "Tống Trân - Cúc Hoa" có chi tiết Sơn Thần biến thành mãnh hổ mang thư Cúc Hoa (vợ) sang nước Tần cho Tống Trân (chồng). Trong "Thoại Khanh - Châu Tuấn" thì hổ cõng Thoại Khanh và mẹ chồng sang tận nước Tề tìm chồng Châu Tuấn. Trong truyện "Lục Vân Tiên" (Nguyễn Đình Chiểu) hổ như người anh hùng trượng nghĩa, quân tử giúp cởi trói cho tiểu đồng rồi đưa Vân Tiên ra khỏi hang, bắt kẻ xấu là hai mẹ con Thể Loan...

image001.jpg -0
Hổ bảng (Đền Ngọc Sơn).

Vì sao vậy? Từ góc độ cốt truyện, trong cái nhìn dân gian xưa học trò thường yếu mềm, “trói gà không chặt”, suốt ngày đèn sách nên có phần ngây thơ, nhẹ dạ, cả tin, thương người. Những điều ấy tương phản triệt để với hình tượng hổ mạnh mẽ, gian ngoan, hung ác, ăn thịt người… Những đối lập ấy phù hợp với tư duy phân cực của huyền thoại để kiến tạo những câu chuyện có hai tuyến nhân vật mâu thuẫn trời vực làm bật ra những ý nghĩa giáo huấn (như trong "Người học trò và con hổ" giới thiệu ở trên).

Ở chiều ngược lại, trong văn bản, hổ được miêu tả trái với thực tế, cũng là cách dân gian mượn điểm tựa tính cách tập quán của hổ để nói lên những ý nghĩa, như trong một số truyện Nôm của ta, đều có ý chung: Vốn hung ác, ăn thịt người thế mà thấy tình huống đáng thương, hổ còn nhân nghĩa cứu giúp. Thế thì những kẻ phản phúc mặt người dạ thú thật không bằng hổ…

Nhìn từ quan niệm văn hóa phương Đông, xuất phát từ hình tượng mang tính mạnh mẽ, uy nghiêm, cao quý, linh thiêng của “mẫu gốc” hổ, nên những ai có tài năng, công trạng lớn… thường được so sánh với hổ (hổ tướng, trướng hùm…). Gắn hổ với học trò là cách gửi gắm một khát vọng mong muốn họ sau này trở thành những “con hổ” (trên văn đàn, trên mặt trận ngoại giao, và nếu cần, cả chiến trường đuổi giặc…).

Thế nên ở ngay trước cổng vào đền Ngọc Sơn (Hà Nội), có hai bức phù điêu đắp nổi hai bức tranh, một bên là bảng Long môn, một bên là Hổ bảng. “Long môn” gợi về huyền tích cá chép vượt Vũ môn hóa rồng. “Hổ bảng” ghi lại những người đỗ Tiến sĩ. Thật ý nghĩa thay!

"Bạch sư phụ: Cọp ạ!" - Hay nửa nhân loại thích… cọp!

Ngụ ngôn trào phúng cổ phương Đông kể: Mười nhà sư trẻ được học hành giáo lý từ nhỏ. Nghĩ họ đã gần đạt đến độ “đắc đạo”, một hôm đẹp trời, sư phụ bèn cho họ xuống núi để xem chúng sinh trần gian chịu kiếp khổ nạn thế nào. Cũng là dịp để thử thách xem trò đã vượt qua được những ma trận mê muội trần tục ra sao. Lần đầu tiên các trò được nhìn thấy những bóng hồng trần gian. Trời ơi, đầy sự rạo rực, đầy sự đam mê, đầy sự thôi thúc, đầy sự cựa quậy... Những cái nhìn chằm chặp đam mê... Thấy thế sư phụ bèn giục trò đi vội và nói: “Cọp đấy!”. Trời tối mà trò chẳng muốn về...

Trở lại chốn thiền môn, “kiểm tra” đám học trò “ngộ” được gì qua chuyến “vi hành”, sư phụ mới hỏi: “Các con xuống núi thích nhất điều gì?”. Tất cả đồng thanh đáp: “Bạch sư phụ, Cọp ạ!”. Câu chuyện kết thúc đột ngột nhưng mở ra nhiều triết lý:

Một là, có cố tình đánh tráo khái niệm thì chỉ thay được cái vỏ còn bản chất nội dung thì vẫn giữ nguyên. Vị sư phụ đã “đánh tráo” khái niệm các cô gái đẹp như tiên kia thành “cọp” - một loài thú dữ, ăn thịt người, thì với đám học trò mới lớn, họ vẫn thích “cọp”!

Hai là, cái bản năng con người, nhất là bản năng về giới tính, tình yêu… thật lớn, rất khó thay đổi. Dù có học hành trau dồi gì từ bé nhưng lớn lên cái bản năng ấy vẫn còn. Rất khó phủ định được nó.

Ba là, chốn trần gian, dù có khổ sở đến đâu vẫn là nơi hấp dẫn nhất... Thì ra tên gọi chỉ là một ký hiệu mà con người quy ước với nhau. Giả sử quy ước gọi lại các cô gái đẹp là “cọp”, thì... nửa nhân loại thích “cọp”!!! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).