Chuyện về Liệt sỹ an ninh Nguyễn Xuân Vinh: Cha vẫn sống mãi trong lòng chúng con

Ông Nguyễn Xuân Vinh, sinh năm 1920, tại thị trấn Đức Thọ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh. Vốn xuất thân trong một gia đình nhà nho, được học tiếng Pháp từ nhỏ nên từ năm 16 tuổi, ông đã vào làm cho cơ quan đường sắt của Pháp, tuyến Hoàng Mai - Quảng Bình. 

Cũng do có điều kiện đi lại nên ngay từ thời gian này ông đã tham gia làm liên lạc cho cách mạng hoạt động từ Thanh Hóa vào đến Quảng Bình. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông gia nhập lực lượng Công an và công tác tại Phòng Bảo vệ Chính trị, Công an Hà Tĩnh.

Từ năm 1946, khi quân Pháp gây hấn quay lại xâm lược nước ta, ở miền Bắc, chúng tăng cường lực lượng, đóng đồn bốt khắp nơi, không ngừng mở rộng càn quét vào các vùng tự do, vùng kháng chiến của ta, cùng lúc chúng tập trung xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ với âm mưu chiếm đóng lâu dài đất nước ta.

Từ các năm 1950 đến năm 1953, quân ta mở hàng loạt chiến dịch từ miền núi Việt Bắc đến đồng bằng Bắc bộ. Năm 1953, quân Pháp câu kết móc nối với một số tên phản động khu vực ven biển Nghệ Tĩnh, tổ chức ba tàu chiến định đổ bộ vào vùng biển Cửa Sót (Hà Tĩnh). Tổ công tác của ông Nguyễn Xuân Vinh được giao nhiệm vụ tìm hiểu kỹ ý đồ của địch để chủ động đối phó.

Ông Nguyễn Xuân Vinh (ngoài cùng bên phải) chụp ảnh cùng bố mẹ, vợ và các con trước khi vào Nam chiến đấu.
Ông Nguyễn Xuân Vinh (ngoài cùng bên phải) chụp ảnh cùng bố mẹ, vợ và các con trước khi vào Nam chiến đấu.

Khi địch liên lạc được với số đối tượng bất mãn trong bờ ra gặp tàu chúng, Nguyễn Xuân Vinh đã hóa trang trà trộn vào. Khi ông lên tàu, chúng nghi ngờ ông là người ta cài vào nên ra đòn phủ đầu, đánh ông dã man gẫy cả răng, nhưng ông không mảy may dao động, đã đánh tan sự hoài nghi của chúng. Từ đây ta biết được thời gian , ý đồ của địch sẽ đổ bộ vào Cửa Sót.

Khi địch cho số đối tượng trên trở lại đất liền với nhiệm vụ tổ chức lực lượng nội ứng, ta đã vô hiệu chúng, rồi bí mật bố trí lực lượng mai phục tại khu vực Cửa Sót. Khi chúng đổ bộ vào, toàn bộ quân địch đã bị ta bắt gọn. Cuối năm 1956, ông được điều ra Bộ, công tác ở Cục Bảo vệ Chính trị nội bộ, làm việc ở bộ phận chuyên đề. Thời gian này ông được phân công phụ trách việc đón tiếp kiều bào ta hồi hương. Năm 1962, ông được cử đi tập huấn ở Liên Xô, đến năm 1964 về nước.

Trước tình hình chiến trường miền Nam ngày càng khó khăn, ác liệt, thực hiện chủ trương của Bộ tăng cường lực lượng an ninh cho các mặt trận, tháng 10- 1965, một đoàn cán bộ trên 100 người gồm ở cơ quan Bộ và các địa phương chia làm 3 tổ lên đường vào Nam. Tổ vào khu V gọi mật hiệu là đi “Bắc Ấn”, tổ vào khu VI là đi “Bắc Kế”, còn tổ vào Trung ương Cục gọi là đi “Ông Cụ”. Mỗi đoàn đi lập một chi bộ riêng. Tổ đi “Bắc Kế” do ông Nguyễn Xuân Vinh làm Bí thư chi bộ, ông Nguyễn Đức Minh làm ủy viên.

Sau bốn tháng đi bộ vượt Trường Sơn, đoàn “Bắc Kế” mới vào được đến đất khu VI. Thiếu tướng Nguyễn Đức Minh, nguyên Phó tổng cục trưởng Tổng cục XDLL Công an nhân dân (nay là Tổng cục Chính trị CAND) nhớ lại: “Khu VI gồm địa bàn cực Nam Trung bộ và Nam Tây Nguyên, cực kỳ khó khăn thiếu thốn. Anh em vẫn gọi đùa là “khu sắn”, bởi lương thực chủ yếu là sắn, kể cả ngày tết cũng chỉ có sắn.

Ông Nguyễn Xuân Vinh vào đây có tên gọi mới là Nguyễn Tử Kinh và được an ninh khu điều lên hoạt động ở địa bàn tỉnh Tuyên Đức, làm Ủy viên thường trực Ban An ninh tỉnh, kiêm phụ trách điệp báo. Thời gian này ông Vinh lăn lộn hoạt động ở vùng Tuyên Đức, chủ yếu sống ở vùng núi Voi, chân đèo Pren.

Địa hình này thuận lợi là buổi tối có thể dễ dàng đột nhập xuống các ấp chiến lược để nắm tình hình địch và vận động nhân dân, gây dựng cơ sở. Ngay cả thời điểm địch thực hiện kế hoạch “bình định đặc biệt”, lấy ấp chiến lược làm trọng điểm, chúng tăng cường tới 30 tên lính bảo vệ 1 ấp, thì ông Vinh vẫn bất chấp hiểm nguy, ra vào các ấp để gây dựng cơ sở cách mạng…”.

Ông Nguyễn Xuân Vinh (giữa) cùng đồng đội tập huấn ở Liên Xô năm 1962.
Ông Nguyễn Xuân Vinh (giữa) cùng đồng đội tập huấn ở Liên Xô năm 1962.

Có một chi tiết ông Vinh viết thư về gia đình kể, là khi mới đến hoạt động ở vùng Tuyên Đức, một lần xuống địa bàn ông có gặp một người cùng làng. Người này đã vào Nam từ trước 1954, hiện sống ở Buôn Mê Thuột. Khi gặp, hai người cùng nhận ra nhau, ông để ý thấy ánh mắt người này không được tự nhiên, sợ bị lộ, ông đã khôn khéo rút ngay.

Hoạt động ở địa bàn Tuyên Đức đến sau Tết Mậu Thân 1968, ông được rút về an ninh khu (đóng ở Bình Thuận), được phân công làm Trưởng tiểu ban Bảo vệ chính trị, với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở, diệt ác, phá kềm…

Tháng 12-1970, An ninh khu cử ông xuống huyện Hàm Thuận, bấy giờ đang là trọng điểm bình định của địch. Đây là địa bàn có đông người dân theo cách mạng, lại ở phân tán, địch nhiều lần vào nhưng ý chí người dân đấu tranh không cho chúng lập ấp, dồn dân. Khi tổ công tác đang triển khai nhiệm vụ ở cơ sở thì nhận được lệnh rút, để tránh một trận càn của địch. Không ngờ, tổ công tác do ông dẫn đầu đang trên đường rút đã sa vào ổ phục kích của địch, khiến ông cùng 6 đồng chí hy sinh.

Tinh thần hy sinh anh dũng của người chiến sỹ an ninh Nguyễn Xuân Vinh đã khiến đồng đội và đồng bào cảm phục. Bởi sau khi bị phục kích, bọn địch lục lọi lấy được giấy tờ ông mang theo người nên chúng biết được tên tuổi, quê quán của ông, chúng lên Đài phát thanh Sài Gòn ra rả khoe chiến tích là “đã hạ gục một cộng sản bự nằm vùng”.

Nhớ lại năm 1965, trước khi ông vào Nam, hoàn cảnh gia đình cực kỳ khó khăn, vợ chồng ông có cả thảy 8 đứa con, người con lớn nhất bấy giờ 20 tuổi, đứa nhỏ nhất còn đang bế trên tay. Hoàn cảnh như vậy nhưng không làm ông nhụt ý chí. Đại tá an ninh nhân dân Nguyễn Xuân Quỳnh, người con trai thứ của liệt sỹ Nguyễn Xuân Vinh, người mà từ lúc sinh ra cộng tất cả thời gian được sống bên ông chưa được một năm, cho biết: “Trường hợp bố tôi đi Nam, sau này về công tác ở Bộ Công an được các chú, các bác kể lại mới biết là bố tôi xung phong đi. Ngày ấy Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn có nói với bố tôi: Tinh thần xung phong của đồng chí là rất tốt, nhưng lãnh đạo Bộ có ý định để đồng chí ở lại, vì đồng chí còn có 8 cháu nhỏ đang ăn học, rất cần phải có trách nhiệm với các cháu.

Bố tôi cười nói rằng: “Tôi ra tiền tuyến, để lại gia đình ở hậu phương, có gì nhờ hậu phương giúp đỡ. Tôi nhờ anh em trong đơn vị và lãnh đạo Bộ đấy”. Bà Nguyễn Thị Tự, vợ liệt sỹ Nguyễn Xuân Vinh, lúc sinh thời, tôi may mắn được gặp, được nghe bà kể về cái ngày ông Vinh đi B: “Trước khi vào Nam, ông có nói là chiến tranh ác liệt, đường sá xa xôi, ông vào trong ấy không biết khi nào về, chỉ mong muốn các con sau này lớn lên phải được học hành đến nơi đến chốn đã, rồi làm gì thì làm. Ông đi giữa lúc hoàn cảnh gia đình đông con, khó khăn nên thấy ông bịn rịn và rất lo lắng, tôi nói với ông rằng: Ông cứ yên tâm đi làm việc nước. Ở nhà tôi sẽ thay ông nuôi các con ăn học”.

Ông đi rồi, ở nhà vợ con ông phải trải qua những năm tháng rất vất vả. Bà khi ấy làm nhân viên cửa hàng bách hóa của thị trấn, thu nhập không đủ nuôi con. Các con của bà tuy còn nhỏ nhưng rất thương mẹ, ngoài giờ học đã biết đi cất tôm, bắt cua, mót khoai. Vốn là dân thị trấn không có ruộng, cứ đến ngày mùa, mấy anh em lại rủ nhau ra đồng mót lúa, người dân xung quanh thương tình có khi đem cho cả bó lúa gồi.

Khó khăn là vậy, nhưng cả 8 người con của ông bà đều chăm chỉ, học hành sáng dạ, mỗi năm một lớp và đều tốt nghiệp đại học. Noi theo gương ông, kể cả những người con của ông bà dù học tập ở ngành ngoài, rồi cũng trở về phục vụ trong ngành Công an. Sinh thời bà mãn nguyện vì gia đình bà có tới mười mấy người gồm con đẻ và các dâu, rể được rèn luyện, trưởng thành trong lực lượng Công an, trong đó nhiều người là cán bộ cao cấp của ngành. Bà rất vui vì đã giữ trọn lời hứa với ông năm xưa.

Hà Văn Thể

Các tin khác

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Trên dải cát trắng khô cằn ven biển, thôn Phú Hội, xã Nam Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị đang chứng kiến sự chuyển đổi rõ nét khi nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản mới như ốc hương, cá kình, cá lăng đuôi đỏ… từng bước mở rộng. Những đối tượng nuôi đa dạng, ứng dụng kỹ thuật mới không chỉ mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn vùng đất cát, mà còn tạo thêm nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm cho nhiều hộ dân.

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.