Chuyện Tết Mậu Thân 1968 từ quán phở đặc biệt…

Chuẩn bị đón giao thừa Tết Mậu Thân 1968, bố tôi cho mua nhiều pháo lắm. Ngoài số treo từ tầng thượng đụng xuống đất, tôi nhớ trong nhà còn mấy dây pháo. Sau này tôi mới hiểu, việc bố tôi chuẩn bị pháo và thỉnh thoảng cho đốt là để tiếng pháo lấn át bao nhiêu tiếng động từ tầng trên của quán – nơi đang tập trung cả trăm chiến sĩ biệt động, đang tập trung cao độ, chờ mệnh lệnh trước giờ G…

Kỳ 2: Quán phở thành Sở chỉ huy tiền phương

“Chuẩn bị đón giao thừa Tết Mậu Thân 1968, bố tôi cho mua nhiều pháo lắm. Ngoài số treo từ tầng thượng đụng xuống đất, tôi nhớ trong nhà còn mấy dây pháo. Sau này tôi mới hiểu, việc bố tôi chuẩn bị pháo và thỉnh thoảng cho đốt là để tiếng pháo lấn át bao nhiêu tiếng động từ tầng trên của quán – nơi đang tập trung cả trăm chiến sĩ biệt động, đang tập trung cao độ, chờ mệnh lệnh trước giờ G…”, ông Nguyễn Văn Lập nhớ lại.   

Ông Lập là con trai của cụ Ngô Toại (SN 1912, quê ở làng Đông Cao, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) - người chủ của quán phở có lịch sử hình thành, tồn tại đến nay đã hơn nửa thế kỷ. “Khi đó, nơi đây là số 7 Yên Đỗ, quận 1, Sài Gòn”, ông Lập kể. Theo ông Lập, năm 16 tuổi, bố ông là công nhân dệt tại Nam Định. Cụ sớm tham gia cách mạng và là một trong các người cầm đầu cuộc khởi nghĩa vào tháng 8/1945 thực hiện “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” tại Thái Bình. Khi thực dân Pháp quay lại hòng chiếm đất nước ta lần thứ hai, bố ông bị địch bắt, bị giam cầm cầm nhưng sau đó đã trốn thoát được vào Nam.

Ông Ngô Văn Lập nói, mỗi khi Tết về, bao nhiêu ký ức của Tết Mậu Thân 1968 cứ ùa về.
Ông Ngô Văn Lập nói, mỗi khi Tết về, bao nhiêu ký ức của Tết Mậu Thân 1968 cứ ùa về.

“Vào tới Sài Gòn, để tránh bị lộ, bố tôi đổi thành tên Ngô Duy Ái, tá túc khu vực Công trường Quách Thị Trang, hằng ngày đi làm thuê. Mẹ và chị tôi 3 năm sau đó cũng vào cùng bố. Được ông bà ngoại (đều gốc Nam Định) truyền cho cách nấu phở gia truyền, bố mẹ tôi sống bằng nghề bán phở. Tằn tiện dành dụm được một ít, cùng với 5 đồng Đông Dương mà bà cô cho trước khi vào Nam, bố tôi quyết định thuê mặt bằng, mở quán phở”, ông Lập kể.

Đầu tiên là cạnh rạp Đại Đồng (nay là đường Nơ Trang Long, quận Bình Thạnh). Sau đó không lâu, vợ chồng ông Toại dời đến một điểm khác trên đường Vạn Kiếp (quận Bình Thạnh), rồi Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng, quận 1). Được một thời gian, ông quyết định mở tiệm phở tại số 150 Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) và 1 tiệm tại số 7 Yên Đỗ. Sau đó, hai ông bà còn mướn thêm ngôi nhà liền bên tiệm phở Hiền Vương để mở thêm một tiệm nữa.

“Thời bấy giờ chưa có khái niệm “chuỗi cửa hàng” như bây giờ, nhưng bố mẹ tôi đã xây dựng thương hiệu Phở Bình với nhiều điểm”, ông Lập nhớ lại. Nhưng sao các cụ lại lấy tên “Bình” đặt cho quán phở?, tôi thắc mắc. “Nhiều người cũng hỏi thế. Bố mẹ tôi từng giải thích cho chúng tôi và đồng chí, đồng đội rằng, Bình chính là Hòa Bình, là khát vọng của bao người”, ông Lập kể mà mắt xốn xang.

Theo mô tả của ông Lập, quán phở Bình trước đó là một dạy trường học, được một chủ tiệm bán đồ điện, mua đầu tư xây cất lại. Đấy là ngôi nhà phố 1 trệt 3 lầu và 1 sân thượng, mặt bằng tầng trệt có kích thước 4x19m nở hậu, giữa có cầu thang bằng đá rửa. Sau khi ông Toại mua lại, tầng trệt ông bố trí cho tiệm phở với thiết kế bếp nấu chiếm nửa hành lang mặt tiền.

Bên trong bố trí bàn ăn thực khách, chừa lối đi ở giữa. Cách ly nhà bếp, nhà vệ sinh, hồ nước với phòng thực khách có thang lầu dẫn lên tầng 1,2,3. Mỗi tầng được chia làm 2 phòng. Có một thang sắt lên sân thượng. Mỗi lầu đều có hàng ba phía trước che chắn bên ngoài bằng tấm sáo trúc. Không chỉ cao so với những căn nhà lân cận, ngôi nhà này rất lợi hại là có cửa hậu đi ra hai hẻm thông qua đường Hai Bà Trưng...

“Bên ngoài Phở Bình cũng hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi. Là quán phở mặt tiền đường, thực khách vãng lai ăn uống đông đúc tại tầng trệt. Đồng thời dọc theo hai bên đường Yên Đỗ nhất là đoạn giáp với ngã ba Hai Bà Trưng là các căn hộ mặt tiền kinh doanh việc cư trú cho bọn Philippines và Mỹ, thậm chí có cả bọn sĩ quan Mỹ. Do đó khu vực này không bị bọn công an, mật vụ, cảnh sát Sài Gòn nhòm ngó”, ông Lập kể.

Có tài liệu cho thấy do đặc điểm và vị trí của căn nhà này mà từ giữa năm 1967, ông Nguyễn Văn Trí (Hai Đô), thủ trưởng đơn vị Bảo đảm Biệt động Thành đã rất tán đồng khi nghe ông Ngô Toại, khi đó là chiến sĩ trong đơn vị, mua lại căn nhà này dù giá khá đắt đỏ (3.600 lượng vàng). Tiệm phở nằm ở trung tâm, rộng thoáng, khách đến ăn tương đối đông nên rất tiện lợi cho cơ sở liên lạc, điểm tiếp nhận tài liệu.

Một số chiến sĩ trong đội biệt động cũng được bố trí trong vai người giúp việc tại tiệm phở. Từ năm 1967, đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ đến trú tại tiệm phở Bình công tác hoặc hội họp vài ngày. Khoảng một tháng trước Tết Mậu Thân, ông Hai Trí đến tiệm phở chỉ thị và ông Ngô Toại đã gấp rút dự trữ lương thực (gồm lương khô, đồ hộp, gà, vịt sống...) cho khoảng 100 người dùng trong 1 tháng…

Thời gian này, một trung đội nữ lần lượt đến từng người, bí mật trụ lại tại phòng phía sau lầu 1 tiệm phở. Đây là các chiến sĩ của nhiều đơn vị như: điện đài, y tế, giao liên... thuộc Sở chỉ huy Tiền phương PK6. Những chiến sĩ khác, sau đó cũng đến lẻ tẻ, mỗi ngày vài người.  Càng đến gần ngày cao điểm, càng có nhiều “khách” đến tiệm phở, nhiều người trong số này là chỉ huy.

Cô Hai Sang mặc áo tím hay đứng trước cửa tiệm phở Bình để làm ám hiệu đón các chiến sĩ từ các nơi đến. Ông Lập kể, trước Tết Mậu Thân 1968, ông mới  12 tuổi. “Tôi nhớ lối khoảng từ 20 tháng Chạp năm 1968, mỗi khi có ai đến ăn phở, hỏi đáp đúng mật khẩu là tôi đưa họ lên tầng 1 cho các chú tiếp nhận, kiểm soát tín hiệu tiếp theo. Cho tới đêm mồng 1 Tết Mậu Thân, lực lượng Biệt động của ta tập kết và ém quân tại quán Phở Bình có đến gần 100 người”, ông Lập nhớ lại.

Lãnh đạo chỉ huy tại Phở Bình khi đó là đồng chí Nguyễn Đức Hùng (Ba Tam – Tư Chu), Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động PK6; Võ Văn Thạnh (Ba Thắng), Chính ủy PK6; Phan Khánh Thường (Ba Thường), Trưởng Ban Quân báo; Phạm Văn Tường (Ba Tường – Ba DeGaulle), Phó Ban quân báo; Đỗ Tấn Phong (Ba Phong), Chỉ huy trưởng cụm Biệt động 679; Nguyễn Văn Trí (Hai Trí), Chính trị viên cụm J9; Ngô Thành Vân (Ba Đen), Đội trưởng A30 (bảo đảm chiến đấu) và là Đội trưởng đội B11 mới thành lập trước đó vài ngày để tập trung cho mục tiêu số 10…

Là con rể của chủ quán Phở Bình, ông Nguyễn Kim Bạch (thành viên còn sống cuối cùng của F100 - phiên hiệu của Đoàn đặc công Biệt động Thành) kể, được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí đến 13 cơ sở cất giấu xung quanh Sài Gòn. Việc vận chuyển vũ khí từ vùng ngoại đô về nội đô Sài Gòn thường được ông và các thành viên F100 dùng xe trâu kéo. Vũ khí chống tăng B-40, AK-47, súng trường, lựu đạn và chất nổ C-4 được giấu kỹ dưới hoa quả chậu cây, bện rơm và ở những ngăn bí mật trong chiếc giường truyền thống. Càng gần Tết Mậu Thân, địch càng thắt chặt công tác bảo mật…

Cuối tháng 1/1968, đơn vị của ông Bạch nhận lệnh cuộc tấn công sẽ bắt đầu trong 3 ngày tới. Lấy cớ đóng cửa quán phở Bình để ăn Tết, nhưng thực tế thực phẩm được lặng lẽ dự trữ và tại căn phòng phía sau tầng hai của quán, đã bí mật diễn ra những cuộc họp. Trong vòng ba ngày trước Tết, hơn 100 chiến sĩ biệt động qua lại và nhanh chóng ẩn nấp vào trong quán phở. Một số ẩn trú tầng trên, một số thì “ém” ở tầng áp mái. Tất cả chờ lệnh cho giờ G.

Năm 1967, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục miền Nam, Quân khu Sài Gòn – Gia Định và Quân khu 7 được giải thể và tổ chức lại thành 6 phân khu, mang phiên hiệu từ 1 đến 6, trong đó, PK6 là Phân khu nội đô Sài Gòn, với cơ cấu gồm LLVT nội thành (bao gồm cả lực lượng biệt động và các cơ sở đảng ở các lõng chính trị nội đô).  Bộ chỉ huy PK6 giải thể Đoàn F100 biệt động (lập cuối 1964, gồm 9 đội biệt động nội đô; 3 đội đặc công – biệt động ven đô và 2 đội làm công tác bảo đảm chuyên trách), thành lập các đội biệt động độc lập đảm bảo nhiệm vụ tiến công từng mục tiêu trong thành phố.

Theo phương án tổng công kích – tổng khởi nghĩa, Biệt động Thành được giao đánh chiếm: Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh Sài Gòn, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát, Khám chí hòa, Bộ tư lệnh Hải quân; đồng thời phối hợp với PK1 đánh chiếm Bộ tư lệnh thiết giáp, Bộ tư lệnh pháo binh, sân bay Tân Sơn Nhất; phối hợp PK 2 và PK3 đánh chiếm khu xăng dầu Nhà Bè; phối hợp PK4 đánh chiếm cầu Sài Gòn và Tân Cảng. Riêng mục tiêu Sứ quán Mỹ, được bổ sung giờ cuối, Biệt động Thành được phân công đảm trách đánh chiếm. 

Thái Bình – Hoàng Đôn

Các tin khác

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Khám phá công việc của cán bộ quản giáo và chiến sĩ thi hành án tại Gia Lai, những chiến công thầm lặng bảo vệ an ninh, cảm hóa người lầm lỗi.

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Tháng Bảy, khi hàng vạn người từ khắp mọi miền đất nước về Quảng Trị dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, trên mảnh đất từng là chiến trường ác liệt này vẫn có những cuộc tìm kiếm lặng lẽ diễn ra. Có gia đình sau hơn nửa thế kỷ mới xác định được nơi người thân yên nghỉ nhờ giám định ADN. Có những người vẫn mang theo tấm sơ đồ cũ băng rừng, vượt suối để tìm cha. Mỗi cuộc tìm kiếm là một hành trình đi qua thời gian, nối quá khứ với hiện tại bằng khát vọng đưa những người lính trở về với gia đình và quê hương.

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Những ngày tháng Bảy, hàng vạn du khách từ khắp nơi trên mọi miền đất nước đã tìm về "địa chỉ đỏ" Khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) để tri ân, tưởng nhớ 10 liệt nữ TNXP và các anh hùng, liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm 58 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2026) và 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2026).

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Dưới cái nắng oi ả của những ngày trung tuần tháng 7, tại Công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh), không khí làm việc của Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh diễn ra khẩn trương nhưng cẩn trọng và khoa học. Bên những hố đất sâu, có bóng dáng một người đàn ông năm nay đã 82 tuổi với cặp kính dày, đôi tay tỉ mỉ gạt từng lớp bùn đất, phân loại từng mẩu xương, từng di vật nhỏ…

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - thuế, nơi yêu cầu cao về tính minh bạch, chính xác và kịp thời. Ngành thuế Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình quản lý nhằm xây dựng hệ thống thuế hiện đại, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.

Chuyện tình bất tử của cô giao liên bên sông Vàm Cỏ Đông

Chuyện tình bất tử của cô giao liên bên sông Vàm Cỏ Đông

Chiến tranh "mượn" ông đi nhưng chưa trả lại cho bà. Một lời hứa, đợi chờ kéo dài tận 6 thập kỷ còn mãi trong tim. Thương một người hẹn mãi mãi không về, quý một người giữ mãi đợi chờ. Đó là chuyện tình bất tử của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và cô giao liên Nguyễn Thị Lệ.

Bài 2: Không ngại gian khó, hiện thực hóa khát vọng sớm đưa các liệt sĩ về với quê hương

Bài 2: Không ngại gian khó, hiện thực hóa khát vọng sớm đưa các liệt sĩ về với quê hương

Tháng Bảy - tháng Tri ân, tại nhiều nghĩa trang liệt sĩ và những địa bàn từng là chiến trường ác liệt năm xưa ở miền Trung, cuộc hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng khẩn trương triển khai. Từ những phần mộ chưa biết tên đến các khu vực nghi còn hài cốt liệt sĩ trong rừng sâu, núi cao hay dưới lòng đất của các chiến trường cũ, tất cả đều đang được rà soát bằng nhiều giải pháp đồng bộ, với mục tiêu trả lại tên tuổi cho những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bài 1: Ký ức dẫn đường nơi… “đất lửa”

Bài 1: Ký ức dẫn đường nơi… “đất lửa”

Triệu con tim của cả nước đang hướng về “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ". Những ngày này, việc thực hiện chiến dịch đang diễn ra rất khẩn trương tại tất cả các địa phương. Và lực lượng Công an đang bám sát nhiệm vụ mà Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ giao cho.

Gặp nữ chiến sĩ kiên trung của Ban An ninh Quảng Đà

Gặp nữ chiến sĩ kiên trung của Ban An ninh Quảng Đà

Từ cô gái 15 tuổi làm giao liên giữa vùng địch kiểm soát đến nữ Đội trưởng Đội trinh sát An ninh vũ trang huyện Duy Xuyên (Quảng Nam cũ) lập nhiều chiến công vang dội trên chiến trường Quảng Đà, Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Xoa đã dành trọn tuổi thanh xuân cho cách mạng. Hơn 50 năm sau ngày đất nước thống nhất, người nữ chiến sĩ năm xưa vẫn lặng lẽ tiếp tục hành trình cống hiến... 

Thầm lặng "gác bầu trời" để pháo hoa tỏa sáng đôi bờ sông Hàn

Thầm lặng "gác bầu trời" để pháo hoa tỏa sáng đôi bờ sông Hàn

Khi hàng vạn người dân và du khách ngước nhìn bầu trời sông Hàn (Đà Nẵng) chờ đón những màn pháo hoa rực rỡ của Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 (DIFF 2026), ở một "mặt trận" khác, những cán bộ, chiến sĩ Công an TP Đà Nẵng vẫn lặng lẽ canh giữ vùng trời lễ hội. 

Khi AI bước vào tòa soạn…

Khi AI bước vào tòa soạn…

Chiều muộn, tại một toà soạn ở Hà Nội, những phóng viên vẫn lạch cạch gõ chữ. Những bài báo dần lên khuôn hình. Thế nhưng, thay vì căng mắt dò lỗi bài viết, giờ đây phóng viên có thể nhấn một câu lệnh, chỉ trong tích tắc các lỗi chính tả sẽ được AI báo về. Điều đáng nói, “dò lỗi” chỉ là một công việc rất nhỏ trong muôn vàn công đoạn khác mà giờ đây AI có thể hỗ trợ các toà soạn báo.

Báo chí tìm hướng đi mới trong kỷ nguyên AI

Báo chí tìm hướng đi mới trong kỷ nguyên AI

Trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển tới mức có thể viết các bài báo, tóm tắt sự kiện và đưa ra những phản hồi mang tính thời sự chỉ trong vài giây, “AI đang thay đổi báo chí đến mức nào” là một câu hỏi không thể né tránh.

“Những năm tháng khốc liệt” của nhà báo cựu tù Côn Đảo

“Những năm tháng khốc liệt” của nhà báo cựu tù Côn Đảo

Ký ức chiến tranh, niềm trăn trở và ám ảnh về năm tháng tù đày đã thôi thúc người cựu tù Côn Đảo cầm bút viết nên cuốn sách “Những năm tháng khốc liệt”. Với chất liệu sống thô ráp, chân thực, cùng khoảng thời gian chịu đựng mọi đòn roi tra tấn và khổ đau tận cùng của kiếp người đã tạo nguồn cảm xúc giúp tác giả Hoàng Phương kể lại câu chuyện của đời mình cùng những người bạn tù “nơi địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Trên dải cát trắng khô cằn ven biển, thôn Phú Hội, xã Nam Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị đang chứng kiến sự chuyển đổi rõ nét khi nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản mới như ốc hương, cá kình, cá lăng đuôi đỏ… từng bước mở rộng. Những đối tượng nuôi đa dạng, ứng dụng kỹ thuật mới không chỉ mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn vùng đất cát, mà còn tạo thêm nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm cho nhiều hộ dân.

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.