Chuyện đời, chuyện phố Khâm Thiên

Tên phố được đặt từ trạm "Khâm Thiên Giám" ở đầu ngõ chợ Khâm Thiên ngày nay. Đã mấy trăm năm, đài thiên văn cổ này dựng lên để đo đạc mây mưa, bức xạ mặt trời và làm lịch. Con đường đi qua mươi làng ngày ấy lổn nhổn đá sỏi và bé vừa đủ một chiếc xe bò kéo cổ lỗ sĩ. Mãi tới năm 1915, đường mới được trổ thêm rộng và dài hơn một cây số. Hàng quán lập lên phố xá. Đèn dầu lập lòe như sao xa. 

Những duyên ngộ đẫm lệ 

Khâm Thiên (Đống Đa) là phố có nhiều ngõ nhất Hà Nội. Đường vào các thôn làng hoặc rẽ ngang các kênh rạch, cống rãnh thì có tới 32 ngõ cả thảy. Nổi tiếng nhất là ngõ Cống Trắng thải nước từ các nơi chảy về hồ ao và ruộng rau muống phía sau làng Trung Phụng và Lệnh Cư. Ai cũng nhớ ở bên đầm ao rau ngõ Cống Trắng có gia đình nhà thơ Trần Huyền Trân (1913-1989) cất lều ở. Vào thập niên 30 thế kỷ trước, phố Khâm Thiên bắt đầu hoạt náo bởi hàng quán hát cô đầu mọc lên. Hàng trăm cô đào hát và đào rượu sinh sống tại các ngõ phố.

anh 1.jpg -0
Tượng đài tưởng nhớ những người đã tử nạn và hy sinh trong trận chiến đấu chống B-52 Mỹ (26/12/1972).

Nhà thơ Trần Huyền Trân khi đó còn là một chàng thi sĩ trẻ. Tên cúng cơm của chàng thi sĩ là Trần Đình Kim sinh trưởng tại Hà Nội. Một lần chàng đang cùng mẹ cất vó bên hồ trong đêm mưa gió thì có tiếng động mạnh. Chàng vội chạy tới mới hay đó là một cô gái bụng mang dạ chửa bị ngã vì đói lạnh. Hai mẹ con chàng đưa cô gái vào lều sưởi ấm. Từ đó, cô gái nằm chờ đẻ ở tại nhà chàng. Đó là một ả đào được một ông chủ lấy về làm vợ rồi hắt hủi đuổi đi khi có thai. Hai mẹ con chàng chăm nuôi cô đào cho đến khi mẹ tròn con vuông.

Cô đã nhờ thi sĩ đặt tên cho con gái bởi chàng tự nhận đứng tên cha đỡ đầu để làm giấy khai sinh cho đứa bé. Khi hỏi kỹ mới biết tên người mẹ là Trần Nguyệt Hiền chàng thi sĩ bỗng chợt thoáng một âm thanh vang lên trong đầu. Bởi cô cùng họ Trần với chàng nên đặt tên cho đứa trẻ là Trần Huyền Trân. Không ngờ đó lại là một cái tên hay chàng bèn lấy làm bút danh của mình. Cái tên Trần Huyền Trân nổi lên từ đó trong làng thơ. Để chia sẻ với nỗi đau tha phương và thân phận của đứa trẻ ra đời nhà thơ đã viết: "Rồi lớn lên con! Mở mắt nhìn/ Khóc cùng bách tính sống như đêm/ Nhưng, không đừng khóc! Thân gân cốt/ Ta bậc thang đời/ Con giẫm lên" (Cái thai hoang - 1942). Hoặc, trong nỗi "Sầu chung II" nhà thơ đã nhỏ lệ thương phận má hồng: "Nhớ người nhớ phố Khâm Thiên/ Ả đào một kiếp thành tên bẽ bàng".

Khâm Thiên phố còn là nhân chứng cho một cuộc tình khác bên vườn hoa làng Thổ Quan. Nơi đó có chàng nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh (1922-1976). Khi mới 15 tuổi, chàng đã thầm yêu cô gái kế nhà bên vườn hoa nhà chàng. Cả hai ở tuổi vị thành niên nên gia đình cô gái phản đối quyết liệt. Tình yêu tuổi trẻ tuy xốc nổi nhưng lại vô cùng tha thiết. Họ quấn quýt bên nhau. Rồi một ngày bất ngờ cha cô gái được bổ nhiệm lên Thái Nguyên làm việc. Từ đó, chàng nhạc sĩ luôn bỏ nhà lên miền rừng núi hẹn hò với cô bạn. Chàng đã thề thốt với người yêu bằng một giai điệu mê hồn: "Nỗi lòng" (1938). Bài hát ấy lập tức nổi tiếng khi Nguyễn Văn Khánh tự đàn và hát trên đài phát thanh ca nhạc. Ngày đó nam thanh nữ tú đều thuộc lời ca da diết của bản tình khúc: "Yêu ai, yêu cả một đời/ Tình những quá khắt khe khiến cho đời ta/ Đau tủi cả lòng vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…".

Nhưng rồi công việc bận rộn dậy đàn kiếm sống, Nguyễn Văn Khánh có tuần không thể lên thăm người yêu. Mấy tuần sau trở lại Thái Nguyên, nhạc sĩ không thể hẹn gặp được bạn tình. Hỏi dò, nhạc sĩ mới hay nàng đã bị bệnh lao và chết sớm. Chàng đã tìm tới mộ nàng khóc than suốt đêm. Người nhà của cô gái an ủi mãi, sáng hôm sau chàng mới chịu ôm hận trở về. Bên gốc liễu ngày nào hai người cùng hẹn hò, chàng nhạc sĩ trẻ đã bày tỏ sự đau đớn của mình qua tình ca: "Chiều vàng" (1939). Cho đến nay hai tác phẩm của Nguyễn Văn Khánh luôn được coi thuộc hàng những tình khúc hay mở đầu cho dòng nhạc tiền chiến.

Đường phố anh hùng

Đã từ lâu người ta thường nói đến phố Khâm Thiên là xóm cô đầu nhưng đâu hẳn thế. Thực ra khoảng 50 nhà hát cô đầu chỉ kéo dài từ ngõ Đền Tương Thuận đến ngõ Liên Hoa (chừng 500 mét). Phần đường phố còn lại chủ yếu là hiệu may và dệt vải. Khâm Thiên còn là nơi hội tụ những thợ lành nghề từ khắp nơi về mở cửa hàng. Rải rác đó đây còn có lò thủy tinh thổi bóng đèn và xưởng nấu xà phòng hiệu "Con Dê" nổi tiếng ngày đó. Hơn nữa còn nhiều xóm cô đầu ở những đường phố khác như chợ Mơ, Ngã Tư Sở, Bạch Mai… Riêng dãy nhà hát cô đầu ở Khâm Thiên bề thế hơn cả vì luôn tiếp đón những quan viên là công chức lắm tiền. Các đào nương ca trù cũng sang trọng và còn thanh cao nữa. Họ đều am hiểu thơ phú và có giọng hát được khổ luyện từ bé. Những biến tướng phía sau những canh hát nảy sinh là từ khi có mặt các đào rượu mà thôi. Khâm Thiên trở nên sầm uất, nhộn nhịp hơn nhiều nơi trên khu phố cổ (quận Hoàn Kiếm).

anh 2.jpg -0
Những cô đầu trên phố Khâm Thiên khoảng năm 1940.

Đặc biệt, Khâm Thiên là phố duy nhất gặp những biến cố chiến tranh khủng khiếp nhất Hà Nội. Vào ngày 26/12/1972, cả phố bị giặc Mỹ rải bom B-52. Bom đã phá hủy 17 tổ dân phố theo chiều dài con đường, phá sập 534 căn nhà và làm 1.200 ngôi nhà khác hư hỏng nặng, kèm theo đó 287 người đã chết và 290 người bị thương. Không ít chiến sĩ tự vệ đã hy sinh anh dũng trong cuộc phố hợp với quân đội chiến đấu bắn máy bay giặc. Trong trận "Điện Biên phủ trên không" ấy, quân và dân Thủ đô đã dũng cảm chiến đấu, hạ gục pháo đài bay B-52. Sau này quân và dân phường Khâm Thiên được Nhà nước phong danh hiệu Anh hùng (2010). Hiện nay, phố đã dựng đài tưởng niệm để ghi nhớ những người đã mất trong những ngày tháng đó. Đây cũng là tượng đài đánh dấu trận đánh kiên cường và hào hùng nhất của quân và dân Thủ đô. 

Phố "Văn"

Dấu ấn phố Khâm Thiên được coi là cái nôi văn hóa đậm sắc văn hóa cổ truyền với thể loại ca trù (hát ả đào). Trên sàn hát cô đầu ngày ấy luôn vang lên những bản đàn bất hủ như "Vịnh Tỳ bà hành", "Chí làm trai", "Đi thi tự vịnh" của Nguyễn Công Trứ. Nhà chí sĩ này còn đó nhưng bản ca trù lừng danh cùng với nhiều người khác. Thật khó quên những tác giả: Dương Khuê, Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Thượng Hiền, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương… Những người đến thưởng thức (quan viên) đều thạo cầm chầu tham gia canh hát thâu đêm. Họ rất say mê giọng hát ma mị của đào nương với những lời ca: "Hồng hồng tuyết tuyết/ Mới ngày nao chưa biết cái chi chi/ Mười lăm năm thấm thoát có xa gì/ Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu..." (Dương Khuê). Những ai đã từng đến đây đều phải học qua để biết cách cầm chầu. Họ đều thuộc lời ca trù của Nguyễn Công Trứ đầy khí phách với những câu thơ: "Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc/ Nợ tang bồng vay trả trả vay/ Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể" (Chí làm trai).

Những mối tình thơ giữa các nhà văn với các cô đầu nổi tiếng ở đây đã nảy sinh mà ai cũng nhớ. Đó là tri âm tri kỷ giữa nhà báo Hoàng Tích Chu với cô Đốc Sao và cuộc tình kéo dài của nhà văn Nguyễn Tuân với đào nương Chu Thị Năm. Có thể nói, hầu hết các nhà văn, nhà thơ thời đó đều đến xóm cô đầu Khâm Thiên. Họ khai thác được nhiều hiện thực sống động và khổ đau của tầng lớp đào hát để sáng tác. Tác phẩm của họ về đề tài này đều có giá trị thậm chí còn xuất sắc như "Chùa Đàn", "Chiếc lư đồng mắt cua" (Nguyễn Tuân), hoặc "Đứa con của người cô đầu" (Kim Lân), hay "Giai thoại một chầu hát không tiền khoáng hậu" (Thạch Lam) và còn đó những bài thơ đầy xót xa về thân phận ả đào của Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Đinh Hùng… Không ai có thể quên những câu thơ đầy cảm xúc của Trần Huyền Trân, khi ông viết tặng Quách Thị Hồ: "Thôi khóc chi ai sống đọa đầy/ Tỳ bà tâm sự rót nhau say/ Thơ tôi gửi tặng người ngâm nhé/ Cho vút giọng sầu tan bóng mây" (Sầu chung I).

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).