Chung quanh quyển Thi nhân Việt Nam (1932-1941)

"Thi nhân Việt Nam (1932-1941)" là quyển sách tuyệt hay của hai nhà nghiên cứu và phê bình: Hoài Thanh - Hoài Chân.

1. Bây giờ thì khó mà tìm được bản in lần thứ nhất quyển sách này. Nhưng theo trí nhớ của tôi, cũng như xác nhận trong bộ "Hoài Thanh toàn tập", Nhà xuất bản Văn học 1998, thì tên đầy đủ là như trên, xin nhấn mạnh một lần nữa: "Thi nhân Việt Nam (1932-1941)".

Nhưng gần 80 năm nay, kể từ khi quyển sách ra đời, tôi thấy có đến gần 95% các nhà nghiên cứu và phê bình và cả nhiều người đọc, khi nhắc đến tên quyển sách này chắc là để cho gọn, chỉ thấy nói và viết có "Thi nhân Việt Nam". Thậm chí, có mấy Nhà xuất bản in lại quyển sách cũng chỉ ghi bốn chữ "Thi nhân Việt Nam" cụt lủn!

Tôi nghĩ như thế thật không ổn. Các tác giả không đặt cho sách mình cái tên cộc lốc như vậy. Những con số ở cuối tên sách xác định phạm vi mà các tác giả khảo sát. Nó hẹp hơn hẳn so với bốn chữ đầu. Chỉ cần đọc tên sách, người ta đã biết các tác giả viết về thi nhân Việt Nam ở thời kỳ nào.

Vì vậy, về phần tôi, những khi nói đến tên quyển sách, nếu chỉ một lần, tôi sẽ ghi đầy đủ là "Thi nhân Việt Nam (1932-1941)". Nếu nói nhiều lần (trong một bài) thì lần đầu, tôi ghi đầy đủ tên sách; từ lần thứ hai trở đi, để cho khỏi dài dòng, sẽ ghi "Thi nhân Việt Nam...". Ba dấu chấm thay cho những chữ số ở tên sách.

Tôi "kiến nghị" nên làm như thế cho hợp lý, mỗi khi nói đến tên quyển sách này.

Nhà nghiên cứu phê bình Hoài thanh thời kỳ viết “Thi nhân Việt Nam 1932-1941”.
Nhà nghiên cứu phê bình Hoài thanh thời kỳ viết “Thi nhân Việt Nam 1932-1941”.

2. "Thi nhân Việt Nam..." đã được tái bản nhiều lần, sau lần in đầu vào năm 1942. Lần nào, phía trên cùng của bìa sách và trang đầu sách cũng ghi tên tác giả: Hoài Thanh - Hoài Chân. Những dòng cuối cùng của quyển sách này ngay từ lần in đầu, cũng được viết một cách... vui và hóm:

"Bạn sẽ lấy làm lạ sao tác giả hai người mà lại cứ xưng tôi. Sự thực thì hai người cũng như một. Không có ý nào, lời nào là của riêng ai. Nhưng bây giờ quyển sách đã hết thiệt rồi, tôi lại biến thành chúng tôi, và chúng tôi xin ký cả hai tên cho đúng:

         Hoài Thanh và Hoài Chân"

Như vậy, không nghi ngờ gì cả, "Thi nhân Việt Nam..." là của Hoài Thanh và Hoài Chân.

Trên sách báo rất lâu nay, tôi thấy không ít nhà nghiên cứu, nhà phê bình, nhà văn, nhà báo... chỉ ghi mỗi tên Hoài Thanh khi trích dẫn những đoạn văn trong quyển sách, hoặc khi nhắc đến tác giả quyển sách.

Mấy chục năm trước, có lần tôi đã hỏi Hoài Chân, là em ruột Hoài Thanh và là một trong hai tác giả "Thi nhân Việt Nam..." chung quanh chuyện này. Ông tỏ vẻ buồn, nhưng chắc là ngại, không nói thẳng ra, mà cho biết, quyển sách in đầu năm 1942, nhưng được hai anh em ông chuẩn bị từ mười năm trước. Nó thể hiện sự say mê đối với Thơ mới và ý hợp tâm đầu của hai anh em ông. Trước khi tuyển chọn thơ cũng như viết những lời bình luận để đăng báo in vào sách, hai người đều bàn bạc kỹ với nhau. Hoài Thanh và Hoài Chân còn trao đổi thư từ với nhiều nhà thơ, tìm gặp không ít nhà thơ, và chính Hoài Chân đã từ Huế ra Bắc gặp một số nhà thơ khác. Khi thông qua kiểm duyệt, Hoài Chân đã phải khéo léo lắm việc xuất bản mới thuận buồm xuôi gió và quyển sách mới có diện mạo như sách đã in (lược bớt một đôi chỗ do phòng kiểm duyệt của Pháp).

Có điều, đọc "Thi nhân Việt Nam..." sẽ thấy văn phong từ đầu đến cuối là của Hoài Thanh, không lẫn với bất cứ ai khác, kể cả Hoài Chân (mà Hoài Chân xưa nay đều viết ít). Vì vậy, nếu kể công lao trong việc cho ra đời quyển sách này thì có thể nói Hoài Thanh nhiều hơn Hoài Chân.

Có lần, cũng đã lâu lâu, trên một tờ báo, tôi đã đề nghị, để thể hiện rõ điều này và để cho sòng phẳng, khi dẫn những gì trong "Thi nhân Việt Nam...", nên ghi tác giả là Hoài Thanh (và Hoài Chân). Hoài Chân để trong dấu ngoặc đơn.

Tôi thấy trên báo chí có nhà nghiên cứu đã hưởng ứng đề nghị này của tôi, và viết như vậy.

Tuy nhiên, hưởng ứng hay không hưởng ứng, theo tôi, các nhà nghiên cứu nhất thiết phải lưu ý đến Hoài Chân khi nói bất cứ điều gì về "Thi nhân Việt Nam...".

3. Bút danh của nhà phê bình Hoài Thanh (Nguyễn Đức Nguyên) có nghĩa là gì? Trong quyển "Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam (1932-1941)", Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995, có hai cách giải thích khác nhau.

Một: Bài "Kỷ niệm về anh Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam" của nhà nghiên cứu Hoài Chân viết: "Hoài Thanh là tưởng nhớ thầy Thanh, một trong những người sáng lập đảng Tân Việt" (tr.202).

Hai: Bài "Hồi ức về Hoài Thanh" của nhà thơ Huy Cận viết: "Tên khai sinh của anh là Nguyễn Đức Nguyên, nhưng anh lại đặt tên văn học của mình là Hoài Thanh, chắc là với cái nghĩa nhớ tiếng, nhớ tiếng mẹ đẻ là nỗi niềm chung của chúng tôi lúc đó" (tr 209).

Nếu chỉ căn cứ vào nghĩa Hán Việt ở bút danh Hoài Thanh thì cả hai cách giải thích đều đúng, cho dù chúng khác hẳn nhau. Nhưng với hai cách giải thích trên, rõ ràng cách giải thích của Hoài Chân đáng tin cậy hơn: ông là em ruột của Hoài Thanh, đồng tác giả quyển "Thi nhân Việt Nam...", chắc chắn hiểu anh mình hơn hẳn những người khác.

(Tôi tiếc là đã mấy lần gặp nhà nghiên cứu Hoài Chân mà không hỏi bút danh của ông có nghĩa gì).

Vì không phải ai cũng đọc cả hai bài trên, và không phải không có người tin lời giải thích của nhà thơ Huy Cận, cho nên, phải chăng, những người làm sách, gặp trường hợp này, cần có lời chú (thường in ở cuối trang) để tỏ rõ chính kiến của mình, hoặc là cho ai đúng ai sai, hoặc là phân vân, chưa khẳng định?

Tôi nghĩ không nên để trong cùng một quyển sách mà có tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" như trên.

4. Trong quyển sách "Nhà thơ và cuộc sống", Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1998, khi nhắc đến quyển "Thi nhân Việt Nam...", nhà thơ Đào Xuân Quý có viết:

"Trong lời mở đầu tập Thi nhân Việt Nam, anh Hoài Thanh khi nói về Xuân Diệu có viết: "Với nghệ thuật tinh vi học được của Baudelaire, anh đã diễn tả được lòng ham sống bồng bột trong thơ De Noailles và trong văn Gide". Nói như vậy, hóa ra Xuân Diệu và nhiều nhà thơ khác nữa trong giai đoạn này, theo anh Hoài Thanh, không có cái gì của mình cả: Tất cả đều là vay mượn, từ nghệ thuật đến tâm hồn, tình cảm! Sao lại có thể như thế được nhỉ" (tr.38).

Đoạn văn này cũng thấy in lại trong "Tuyển tập Đào Xuân Quý", Nhà xuất bản Văn học, 2002, tr 468.

Đúng là cách viết phê bình của một... nhà thơ (tất nhiên không phải tất cả các nhà thơ, khi viết phê bình đều viết như thế)! Chỉ có mấy dòng mà tập trung những phiến diện, sơ suất, lỏng lẻo... Nhà thơ đã không lưu ý rằng:

Một: Các tác giả quyển "Thi nhân Việt Nam..." chỉ nói đến "lòng ham sống bồng bột" thôi, không nói đến những thứ khác.

Hai: Các tác giả chỉ nói về nhà thơ Xuân Diệu thôi, không thể "hóa ra Xuân Diệu và nhiều nhà thơ" nào khác nữa "trong giai đoạn này".

Ba: Các tác giả không hề nói các nhà thơ trong giai đoạn này "không có cái gì của mình cả", "tất cả đều là vay mượn" như nhà thơ Đào Xuân Quý nghĩ.

Tất nhiên, "Thi nhân Việt Nam..." không phải là một quyển sách hoàn hảo, toàn bích. (Mấy khi có được một quyển sách hoàn hảo, toàn bích)! Nhưng nếu nhà thơ Đào Xuân Quý có phát hiện những bất cập của quyển sách (như đã nêu) thì phải tìm dẫn chứng có sức thuyết phục ở những chỗ khác, chứ không phải ở đoạn văn mà anh đề cập.

Có khá nhiều chỗ vô tình phản bác nhà thơ Đào Xuân Quý, nhưng hãy chỉ đọc một đoạn dưới đây trong "Lời nói đầu" quyển "Thi nhân Việt Nam..." mà nhà thơ Đào Xuân Quý đề cập - một đoạn văn rất có thể Hoài Thanh (và Hoài Chân) đã mượn hình thức diễn đạt của người khác:

"Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên... và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.

Từ người này sang người khác sự cách biệt rõ ràng...".

Các tác giả "Thi nhân Việt Nam..." không hề cho rằng "Xuân Diệu và nhiều nhà thơ khác nữa trong giai đoạn này... không có cái gì của riêng mình cả" như nhà thơ Đào Xuân Quý đã tưởng tượng ra và phàn nàn.

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).