Chùa Quỳnh Lâm - Bích động thi xã

Tiếng là đã từng có thời gian đóng quân ở xã Tràng An (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) nhưng cũng phải đợi những 23 năm tôi mới tới thăm chùa Quỳnh Lâm. Lần ấy là tình cờ nên cuộc thăm thú không nhiều thời gian. Ấn tượng trong tôi ở lần ngắn ngủi ấy là tháp chuông chùa Quỳnh Lâm, một tháp chuông cao hai tầng được xây dựng trên nền cao.

Và rồi cũng phải thêm 25 năm nữa tôi mới thực sự có được cuộc thăm thú dài dài hơn và tìm hiểu được kỹ càng hơn về ngôi chùa được mệnh danh là “Đệ nhất danh lam cổ tích nước Nam”. Như “những người quen cũ” bất ngờ gặp lại nhau tôi thấy bừng trong tâm trí niềm vui khó tả. So với 25 năm trước, chùa Quỳnh Lâm bây giờ đã khang trang hơn nhiều với nhà Tam bảo, nhà Tiền đường và nhà Chính điện mới và to rộng. Nhưng tháp chuông chùa vẫn thế, cao và thanh thoát với quả chuông đồng có tên là “Đại Hồng Chung”, được đúc từ thời Nguyễn.

Nhớ lần ghé thăm trước, chúng tôi đã leo lên những bậc cầu thang gỗ để tới sờ tay và xin phép được “thỉnh” một tiếng chuông. Hôm đó trời đã về chiều, bóng núi, bóng cây đang phủ mầu thấm đẫm, tiếng chuông âm âm như gọi về xa xưa, gợi niềm hoài cổ. Dạo đó chúng tôi chỉ mang máng được nghe rằng chùa Quỳnh Lâm và quả chuông chùa rất linh và cũng rất thiêng. Nghe giới thiệu thế lại nghe tiếng chuông âm âm trong buổi chạng vạng, chúng tôi thấy chút rờn rợn, thấy xa xôi hiện về.

P -0
Mái chùa Quỳnh Lâm.

Chuyến đi thăm chùa Quỳnh Lâm này xuất phát từ Trại sáng tác văn học. Chả là các nhà văn tham dự Trại sáng tác văn học về đề tài “Vì an ninh Tổ quốc. Vì bình yên cuộc sống” được UBND thị xã Đông Triều mời đi thăm Khu di tích Nhà Trần trên địa bàn thị xã. Một cuộc đi thăm tưởng không ăn nhằm gì tới “Trại viết” hóa ra lại bổ ích. Các nhà văn đã được thăm, được hiểu về mảnh đất Đông Triều - Triều đình phía Đông của nhà Trần. Một cuộc đi thăm bổ ích giúp các nhà văn tường thêm về lịch sử và những giá trị văn hóa.

Hướng dẫn cho đoàn chúng tôi vẫn là bà Nguyễn Thị Phương, Phó trưởng Ban quản lý di tích thị xã Đông Triều, mấy bữa trước cũng chính bà Phương là người đã giới thiệu với chúng tôi về Đền An Sinh. Bà Phương cho biết: “Chùa Quỳnh Lâm được khởi dựng từ thời Lý, năm Long Thuỵ Thái Bình thứ 4 (1057) thời vua Lý Thánh Tông”. Nhưng thực ra thì “gốc” của chùa Quỳnh Lâm có từ trước đó nhiều thế kỷ. Nghe đâu như vào cuối thế kỷ thứ 5, đầu thế kỷ thứ 6 thì phải? Và ngôi chùa thuở sơ khai đó đã từng được tu sửa qua các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê. Bà Phương giới thiệu: “Đặc biệt là chùa Quỳnh Lâm được tôn tạo và hoàn chỉnh vào cuối thời Lý, Trần. Trong các thế kỷ 11 - 14, thời kỳ cuối Lê và thế kỷ 17 -18, Quỳnh Lâm là trung tâm Phật giáo lớn nhất của Việt Nam”.

Chùa Quỳnh Lâm chỉ thực sự trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng trong thế kỷ 14 với hoạt động của Pháp Loa, vị tổ thứ hai củaThiền phái Trúc Lâm Yên Tử, sau Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Nhị Tổ Pháp Loa sinh ngày 7 tháng 5 niên hiệu Thiệu Bảo thứ 4, tức năm 1284, quê ở làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Người vốn tên thật là Đồng Kiên Cương, sau này đi tu mới đổi pháp hiệu là Pháp Loa.

Sau khi Pháp Loa chính thức được Phật Hoàng Trần Nhân Tông truyền y bát, trở thành Tổ thứ 2 Thiền phái Trúc Lâm, trở thành người lãnh đạo Phật tử trong cả nước, số người xin xuất gia và quy y học đạo rất đông, lên tới hàng vạn. Ông thường xuyên tới chùa Quỳnh Lâm thuyết pháp cho tín đồ. Các vua Trần, cùng các vương hầu, tôn thất, quý tộc nhà Trần đều thường xuyên lui tới, Quỳnh Lâm trở thành chốn “Tùng Lâm” khang trang, nhộn nhịp.

Bà Phương cho biết thêm: “Sang thời Thiệu Trị (1840 - 1847), chùa bị cháy Chính điện và Tiền đường, sau đó được trùng tu lại. Đến năm 1910 hỏa hoạn lại tiếp tục thiêu trụi hết tượng đài, gác chuông, gác trống… Sau hoả hoạn, nhân dân thập phương đã cùng nhau quyên góp tu sửa lại, nhưng chưa được bao lâu thì năm 1947 máy bay giặc Pháp ném bom xuống chùa vì nghi ngờ đây là cơ sở kháng chiến. Lần này chùa bị phá huỷ hoàn toàn. Đến 1995, chùa được xây dựng lại”. Tôi gật gù, thảo nào mà năm 1998 tôi tới chùa thấy còn “hoang vu” và thưa vắng. Hơn hai mươi năm có khác, chùa Quỳnh Lâm đã hiển hiện với sức vóc mới và hoành tráng, xứng với danh xưng “đệ nhất”.

Sáng nay trời rất nắng. Tôi vừa nghe bà Phương giới thiệu vừa ngước mắt nhìn trời, nhìn khắp bốn xung quanh chùa. Đúng là mọi sự đều đã đổi thay ngoài sức tưởng tượng. Ngoài Tháp chuông gọi là “cũ” ra thì chùa Quỳnh Lâm hiện nay khang trang lên rất nhiều. Ngay khoảng sân trước Tháp chuông cũng thế, ngày trước khi tôi tới thì sân này chưa có nên Tháp chuông có vẻ như ẩn khuất rồi vút cao lên giữa bốn bề cây lá tốt tươi. Nay khoảng sân đã cho mắt nhìn Tháp chuông như đứng giữa mênh mông.

Theo bà Phương, qua các đợt tiến hành khảo cổ và phục cổ đã cho thấy đây là ngôi chùa có nhiều giá trị lịch sử và văn hóa. Ở đây hiện còn “vườn tháp cổ” với 11 ngôi tháp, trong đó 7 ngôi tháp với chất liệu bằng đá còn nguyên vẹn, 4 ngôi tháp đã được phục dựng lại trong những năm cuối của thế kỷ 20. Khoảng 20 ngôi tháp đã bị đổ sập hoàn toàn, chỉ còn lại những dấu vết gò mộ mà vị trí đó hiện là nơi trưng bày di tích khảo cổ, giá trị của cổ vật là dấu ấn xây dựng, kiến trúc qua các thời kỳ từ nhà Lý tới nhà Nguyễn.

P -1
Một số bia đá cổ được lưu giữ tại chùa Quỳnh Lâm.

Đặc biệt, Quỳnh Lâm nổi tiếng với những ngôi tháp như: Tháp Tịch Quang, xây dựng năm 1727, để tưởng niệm vị hòa thượng Tuệ Đăng chính giác Chân Nguyên Thiền sư, người có công lớn trong giới thiền gia bấy giờ. Trong thời gian trụ trì tại chùa Quỳnh Lâm ông đã có công đức tu sửa, đúc chuông, tạc tượng và in nhiều Kinh Phật cho chùa. Đặc biệt vào năm Chính Hòa thứ 5 ông đã cho xây dựng một tòa Cửu Phẩm lớn.

Ngày nay tòa Cửu phẩm tuy không còn nhưng tháp đá vẫn còn nguyên vẹn, tháp gồm 7 tầng có mặt bằng vuông và cao trên 10m. Cạnh đáy tháp dài 2,7m, càng lên cao càng thu nhỏ dần. Tháp có cấu trúc đơn giản, ít trang trí, và điều đáng chú ý là tháp được ghép từ các tảng đá xanh không có kết cấu vôi vữa. Cũng như nhiều tháp đá đương thời, tháp Tịch Quang được bịt kín các tầng, chỉ để tầng 3 làm cửa cuốn, trong lòng rỗng để làm hương khói cho thiền sư. Trang trí trên tháp cũng hết sức đơn giản. Rồng được khắc trên tháp trông dữ tợn và được chạm 4 mặt ở tầng trên cùng, các tầng khác không chạm gì ngoài những chữ Hán lớn. Ngoài ra còn có các tháp nhỏ khác được dựng lên để tưởng niệm các vị sư tăng đã có công trong việc trụ trì như: tháp Tĩnh Minh (1822), tháp Tường Quang (1854), tháp Tuệ Quang (1878), tháp Diệu Quang và tháp có mặt cắt hình lục giác không rõ họ tên, niên đại. Các tháp này đều mang phong cách đơn giản thời Nguyễn.

Bà Phương cho hay: “Chùa Quỳnh Lâm thời Trần không những là trung tâm Phật giáo, nơi tập trung các tăng ni phật tử, mà còn là nơi để các danh nho lui tới”. Theo sử sách còn ghi lại, vào đầu thế kỷ thứ 14, tại chùa Quỳnh Lâm đã có một “Bích Động Thi Xã” do tư đồ Văn Huệ Vương Trần Quang Triều sáng lập, đây là một trong những Hội Thơ sớm nhất của nền thi ca phong kiến Việt Nam. Thi Xã được lập ở Am Bích Động, ngay cạnh chùa Quỳnh Lâm và chính sự xuất hiện của Thi Xã đã khiến Quỳnh Lâm càng nức tiếng xa gần. Bích Động Thi Xã đã hội tụ một số nhà thơ nổi tiếng thời Trần, với những thành viên còn lưu danh đến ngày nay như: Trần Quang Triều, Nguyễn Sưởng, Nguyễn Ức và Nguyễn Trung Ngạn. Sự ra đời của Bích Động Thi Xã là bước tiến quan trọng trên tiến trình lịch sử phát triển văn học nước ta trong giai đoạn đầu thế kỷ 14”.

Theo như tôi được nghe thì ở chùa Quỳnh Lâm này đã từng có nhiều báu vật quý, có giá trị cao. Danh tiếng “Thiên nam tứ đại khí” chính là để chỉ về những báu vật đó. Do nhiều biến động nên “tứ đại khí” chỉ còn lại quả chuông đồng. Nhưng như để bù lại sự mất mát đó, công trình phục dựng chùa Quỳnh Lâm ngoài những di vật khảo cổ đang được trưng bầy công khai, thì bức tượng Phật ngọc cao 2,2 mét, nặng 3,7 tấn là một báu vật mới rất giá trị.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).