Chữ như là tấm khiên che chở nhà văn

Nguyễn Văn Thọ xuất hiện trên văn đàn trong vai một cây bút truyện ngắn giàu nội lực và cá tính với "Vàng xưa", "Sẫm violet", "Hương mỹ nhân", "Vườn mộng". Như ai đó nói, viết văn xuôi cuối cùng vẫn cần thử sức bằng tiểu thuyết, phải thế mới có tiêu chuẩn để đo sức khỏe của một cây bút được coi là thành danh...

Từ văn xuôi đến phê bình

Đúng vậy! "Quyên" (tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, 2009), nhận Giải Nhì Cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 3 (2006-2009) của Hội Nhà văn Việt Nam, đã được chuyển thể thành phim truyện (cả tiểu thuyết, cả phim đã lấy đi không ít nước mắt của độc giả /khán giả ngày nay vốn thông minh nhưng cũng rất khó tính).

"Đi qua đời tôi", với hình thức thể loại phê bình kép, vừa vẽ chân dung, vừa luận bàn rộng ra văn học nghệ thuật, là một dấu chỉ xác nhận Nguyễn Văn Thọ đa tài, đã tạo nên "thương hiệu" riêng. "Đi qua đời tôi" gồm 45 bài viết thuộc nhiều dạng thức: phê bình chân dung, thời luận nghệ thuật, hồi ức,... thuộc nhiều lĩnh vực văn chương, hội họa, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh,...

Bài viết mới đây nhất "Sự độc đáo của Chuyện tình Khau Vai" phê bình tiểu thuyết của Nguyễn Thế Kỷ, NXB Văn học, 2019 in trên Báo Văn nghệ Công an chứng tỏ Nguyễn Văn Thọ có đủ phẩm chất và năng lực để vừa sáng tác văn xuôi thành công, vừa viết phê bình văn học có thể tạo hấp lực với độc giả. Chỉ có ai đọc kỹ Nguyễn Văn Thọ qua tác phẩm mới nhất này mới hiểu vì sao nhà văn lại đặt tên sách là "Đi qua đời tôi".

Đó là từ một câu văn trong bài "Chân thành như Nguyễn Phan Hách": "Với tôi, thi sĩ Nguyễn Phan Hách không phải là một thần tượng. Tôi chẳng có thần tượng nào ngoài "Sự kính trọng, thương yêu có phân tích" mà suốt đời tôi dành cho con người thuộc về Dân tộc - Bác Hồ. Vậy mà nhiều khi tôi lại muốn viết về anh, nhà văn, thi sĩ Nguyễn Phan Hách. Anh là một người đã đi qua đời tôi. Những dấu ấn rất khó mờ. Vui buồn" (ĐQĐT, trang 117).

Cá tính phê bình

Nếu soi chiếu vào đặc điểm như là chuẩn chỉ của nhà văn là đi-đọc-viết thì Nguyễn Văn Thọ hội đủ. Hơn mười năm cầm súng ở chiến trường miền Nam ra sống vào chết, hơn 20 năm bươn chải mưu sinh nhọc nhằn ở Đức, ngay cả khi gần đây trở về Việt Nam sống lâu dài thì ở đâu, làm gì ông nhà văn này cũng không lúc nào yên ổn, mọc rễ lâu ở một chốn, dù nơi đó tiện nghi đủ đầy, mặc sức thỏa chí tang bồng.

Bìa tác phẩm mới của nhà văn Nguyễn Văn Thọ.
Bìa tác phẩm mới của nhà văn Nguyễn Văn Thọ.

Tôi cứ hình dung, Nguyễn Văn Thọ như một cỗ xe thiết giáp hiện đại chỉ có xông lên phía trước, cán đích nhanh nhất, hiệu quả nhất. Có vẻ không cam lòng chỉ là người sáng tác, ông luôn muốn trở thành ngòi bút đa năng trong nhiều lĩnh vực văn chương.

Vậy nên, cái nét ưu trội trong phê bình của Nguyễn Văn Thọ là áp sát đời sống, giống chiến thuật "bám lấy thắt lưng địch mà đánh" thường được vận dụng thành công trong chiến tranh. Giao diện của nhà văn rộng, viết từ văn chương sang điện ảnh, hội họa, âm nhạc, sân khấu. Viết từ người trẻ đẹp cầm bút như Dili đến trưởng lão làng văn Tô Hoài (liền 3 bài). Viết về các họa sỹ Thành Chương, Nguyễn Đại Giang, Lê Đình Nguyên đến các nhạc sỹ Trịnh Công Sơn,...

Cũng có người cho rằng Nguyễn Văn Thọ đôi khi quá say sưa với đối tượng như viết về Đỗ Bích Thúy (2 bài liền), có khi lại kê cao Dili người đẹp viết văn. Tôi thì nghĩ, không có gì là không thể trong một thế giới phẳng.

Tôi riêng thích cái giọng nhiều cung bậc của Nguyễn Văn Thọ: lúc thì riết róng như "Nguyễn Huy Thiệp hay là cuộc trò chuyện ngẫu hứng qua mây gió", chiếm đến 1/10 tổng số trang in của sách, lúc thì thủ thỉ nỉ non "Đồng Đức Bốn và trận mưa cuối cùng", lúc thì cung kính chiêm bái "Nguyễn Bản, người thầy, nhà văn ở ẩn", "Trần Lê Văn mãi ở trong tôi", lúc thì vỗ về bè bạn "Mưa bạn văn ra Hà Nội", lúc thì như cha ban phước lành cho con "Cô Thúy" hay "Ở phố nhớ rừng", "Dili người đẹp viết văn"... Nhưng cũng có lúc ông thả rông sự viết/giọng điệu như "Biệt danh Thọ Muối từ đâu",...

Phê bình Nguyễn Văn Thọ có cái nét đặc trưng là nói cho hết nhẽ, không mấy bận tâm "ý tại ngôn ngoại", không ngại va chạm, mất lòng mất bề. Nghĩa là thẳng băng như ruột ngựa(!?). Ví dụ rõ ràng nhất khi viết về Nguyễn Huy Thiệp: "Về "Tuổi hai mươi yêu dấu", ông Thiệp trả lời mạng Trực tuyến Việt Nam, đã trách cứ nhiều nhà xuất bản không in. Tôi lại thấy, đó là điều may cho ông Thiệp. Tiểu thuyết đầu tay này chứng tỏ Nguyễn Huy Thiệp không có khả năng viết tiểu thuyết. Ông viết như những bài báo xoàng, phản ánh tiêu cực tại Việt Nam.

Nhưng xét ngay ở góc độ báo chí thì cuốn sách lại thua xa những bài báo cùng nội dung đăng tải trên các trang báo hằng ngày. Ông cũng lại dùng miệng cậu Khuê ngay từ mở đề phang nền giáo dục Việt Nam. Mọi bùa phép có thể giúp ông thành công ở truyện ngắn, đem sang tiểu thuyết xem ra không còn hợp, khiến ông đã thất bại thảm hại. Thà như Trần Mạnh Hảo, dũng cảm tỏ thái độ với nhiều vấn nạn hiện nay của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, hay như những bài báo của những phóng viên vừa ra trường viết về  tệ nạn ma túy, mại dâm, còn hơn là Nguyễn Huy Thiệp viết báo bằng món nộm giả cầy, có tên là tiểu thuyết" (ĐQĐT, trang 258).

Xem ra Nguyễn Văn Thọ là một cây bút biến ảo khi viết phê bình. Sự biến ảo này, theo tôi không phải đã là ngón nghề, chiêu thức mà là sự dồn ứ của trải nghiệm, của vui buồn, đau đớn, mất mát, thua thiệt, được còn của một đời người nhiều thăng trầm, nhiều phen lao đao vì lăn lộn. Ông viết theo cách của người lính ở chiến trường (hoặc sống hoặc chết/ nhất xanh cỏ nhì đỏ ngực) và của một người làm ăn ở thị trường (hoặc lãi hoặc lỗ, hoặc được hoặc mất). Cả hai mặt trận này, tôi thấy Nguyễn Văn Thọ đều không ngán, cứ xông thẳng vào gian nguy, có đôi chút liều lĩnh, phiêu lưu và mạo hiểm. Ai đó nói không quá, ông nhà văn này có máu giang hồ. Nhưng cầu trời phù hộ, chữ như là tấm khiên lá bùa che chở nhà văn. Tôi nghĩ thế không biết có đúng (?!).

VĨ THANH: Nguyễn Văn Thọ là cây bút rất dễ để độc giả khen hoặc chê đều có lý, có tình. Tôi còn nhớ, cách nay chưa lâu, khi ông in truyện ngắn "Mùi thuốc súng", lập tức chia đôi dư luận về truyện ngắn này. Ấy thế mới rôm rả văn chương. Lần này lại cũng thế. Nhiều người thích Nguyễn Văn Thọ tung tẩy, múa bút trên từng trang "Đi qua đời tôi". Lại cũng không ít người nghĩ ông nhà văn này hơi tham, làm gì mà bắt "Đi qua đời tôi" oằn lưng "cõng" đến 45 bài theo lối trình diễn "tạp kỹ" (?!). Nhưng nếu ai hiểu tâm thế, tâm tình, trâm trạng của Nguyễn Văn Thọ từ khi trượt qua dốc U80 (ông sinh 1948) thì hay khắc khoải, thấp thỏm chúng mình còn ít thời gian lắm. Câu này chính tai tôi nghe từ nhà thơ Hoàng Vũ Thuật hôm ra Hà Nội dự buổi gặp gỡ do Nhà xuất bản Hội Nhà văn tổ chức nhân "lễ thôi nôi" ấn phẩm Viết & Đọc.

Hôm đó tôi ngồi giữa Nguyễn Văn Thọ và Hoàng Vũ Thuật. Nếu tôi là người biên tập, sẽ thẳng thắn như sự thẳng thắn của tác giả, đề nghị bỏ bớt một số bài, thì bây giờ cuốn sách sẽ gọn gàng, xinh xắn, bắt mắt biết bao để khỏi vương vất đôi chút eo xèo.

Nhưng nói gì thì nói, "Đi qua đời tôi" vẫn cứ có những trọng lực, trọng tâm của nó. Không riêng tôi, nhiều người thích những bài ánh lên cái chất Nguyễn Văn Thọ như: "Trần Đăng Khoa gã phù thủy chữ đùa giỡn với Thượng đế và Thánh thần", "Đỗ Chu, lão mai - quế - hương - đời", "Mười năm xa nhớ Bế Kiến Quốc", "Nguyễn Bản, người thầy, nhà văn ở ẩn"…

Có người nói, nếu như Nguyễn Văn Thọ dũng cảm tự biên tập trước, lược bỏ bớt đi một số bài về các lĩnh vực ngoài văn chương thì "Đi qua đời tôi" trở thành một khối thống nhất, gọn ghẽ hơn, lấp lánh hơn, ấn tượng hơn. Nhưng than ôi, chỉ vì hai chữ nếu như, đôi khi lịch sử còn có thể thay đổi. Huống hồ văn chương. Huống hồ phê bình!

Hà Nội, 12-2019

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).