Chử Đồng Tử: Một trầm tích văn hóa

Chử Đồng Tử là một trong những hình tượng văn hoá đẹp nhất trong hệ thống mã biểu tượng của văn hoá Việt cần được nhìn nhận, cắt nghĩa, lý giải sâu hơn để đưa giá trị hình tượng trở về với vị trí lớn lao đích thực. Truyện là một trầm tích văn hóa hàm chứa cả một liên văn hoá bề rộng và tầng lớp các chiều sâu ý nghĩa...

Trong bốn vị thánh bất tử (Tứ bất tử - bốn vị thánh sống mãi) của văn hoá Việt là Tản Viên Sơn Thánh, Chử Đạo Tổ, Đức Thánh Gióng, Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì ba vị đầu là nhân vật thời Vua Hùng dựng nước, chỉ có Thánh Mẫu Liễu Hạnh là có gốc tích ở thế kỷ XVI.

Đáng chú ý, theo huyền thoại thì dù không được Vua Hùng thừa nhận nhưng về bản chất, Chử Đồng Tử vẫn là con rể Vua Hùng, trong khi đó Sơn Tinh là con rể chính thức được Vua Hùng gả con gái. Như vậy là trong ba thánh "bất tử" thì có tới hai là con rể. Chi tiết này nằm trong một loạt các sự tích Vua Hùng cho thấy các chàng rể đóng vai trò rất lớn trong việc dựng nước và giữ nước, trong việc sáng tạo nên các kỳ tích văn hoá.

Cũng là con rể nhưng Trọng Thủy trong truyền thuyết "An Dương Vương" lại phản trắc? Đây là những câu hỏi rất cần được giải mã từ các nhà nghiên cứu. Nhưng có một lý do khi An Dương Vương gả con gái cho con Triệu Đà, không phải là mất cảnh giác, mà là nằm trong tập quán ngoại giao thời cổ đại là mong muốn hoà hiếu giữa các quốc gia, lãnh thổ, cộng đồng mà các lãnh chúa, các lãnh tụ bộ tộc, bộ lạc… thường gả con cho nhau. Họ làm "thông gia", thân tín, gần gũi, chia sẻ, như một thành ngữ cổ: "Thông gia thông giáo nấu cháo nuôi nhau".

Tập quán này kéo dài mãi về sau, ở thời trung đại ta vẫn thấy Vua Trần gả con gái cho con vua các nước lân bang như Chiêm Thành… Đành rằng đó là bài học cảnh giác với kẻ thù xâm lược, nhưng có nên trách cứ An Dương Vương là "nhẹ dạ" mà "mất cảnh giác" rồi để mất nước? Liệu có nặng nề quá chăng? Liệu có đúng với bản chất vấn đề lịch sử?

Trở lại chi tiết con rể trong chuỗi huyền thoại Vua Hùng, phải chăng có một sự thật là nhờ chính sách hoà hiếu rộng rãi mà thời đó đạt được các kỳ tích văn hoá? Các chàng rể quý như Sơn Tinh, như Chử Đồng Tử là những chứng minh…!!!

Truyện "Chử Đồng Tử" trước hết là bài ca về đạo Hiếu đậm bản sắc Việt.

Tranh minh họa Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung.
Tranh minh họa Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung.

Người Việt có cả hẳn một kho tàng tục ngữ, ca dao về chữ Hiếu: "Con ơi muốn nên thân người/ Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha"; "Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con"; "Làm con hiếu nghĩa đi đầu/ Hiếu cha, hiếu mẹ việc gì cũng xong"… Chứng tỏ chữ Hiếu đã trở thành một bản sắc đậm đà, thành một nét tính cách, một truyền thống văn hoá. Truyền thuyết "Chử Đồng Tử" trước hết là sự minh họa sinh động, cụ thể bằng hình tượng rất mực cảm động và chân thực cho nét văn hoá này.

Chuyện rằng nhà nghèo quá, lại mới gặp tai họa (cháy nhà) mà cha (Chử Cù Vân), con (Chử Đồng Tử) mặc chung nhau một cái khố. Trước khi chết, người cha dặn con cứ táng trần cho bố, còn giữ lại cái khố để con mặc. Như vậy đến lúc chết người cha vẫn thương con, day dứt vì con không có khố để mặc lúc này còn lúc khác. Và rất có thể ông còn day dứt vì không tròn trách nhiệm làm cha phải thu vén, chăm lo cho con trọn vẹn. Bao nhiêu nỗi niềm dồn tụ vào câu nói trăng trối ấy!

Chử Đồng Tử không nỡ táng cha trần. Đây không chỉ là chữ Hiếu mà còn là phong tục tang ma ngày xưa với quan niệm "trần sao âm vậy" và "nghĩa tử là nghĩa tận", nghĩa là dành cho người đi xa mãi mãi những điều kính trọng, mến thương, luyến tiếc. Đồng Tử mong cha xuống âm phủ còn có cái khố che thân… Đồng Tử không chỉ tròn chữ Hiếu mà còn tròn với phong tục, tập quán. Không chỉ làm tròn trách nhiệm người con mà tròn cả trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ một công dân.

Chữ Hiếu trong truyện này còn mang màu sắc Nho giáo và Phật giáo. Theo lối chiết tự từ Hán Việt thì chữ Hiếu có hai bộ, gồm bộ "lão" chỉ người già ở phần trên và bộ "tử", chỉ con cái ở phía dưới. Hàm ý tượng hình của chữ "Hiếu" là chỉ hình ảnh một người con cõng cha (mẹ) già. Nho giáo coi chữ Hiếu là tiêu chuẩn để đánh giá phẩm chất đạo đức con người. Hiếu là hết lòng thờ kính bố mẹ.

Đạo Phật cũng coi trọng chữ Hiếu, trong kinh Thiện Sinh, bản kinh nguyên thủy trong bộ kinh Trường A Hàm ra đời đã 26 thế kỷ ghi lại lời Phật dạy, có nêu 5 điều con cái phải kính thuận cha mẹ. Phật coi "cha mẹ là phương Đông" có thể hiểu đó là phương mặt trời mọc, có mặt trời mới có sự sống.

Truyện "Chử Đồng Tử" của ta là sự giao thoa rất đẹp hai tư tưởng lớn ấy. Sau này nhờ phép thuật mà Chử Đồng Tử có bình hùng tướng mạnh nhưng vẫn không chống lại quân của Vua Hùng (tức bố vợ) vì chàng muốn giữ tròn chữ Hiếu!

Truyện là bài ca ca ngợi tình yêu hôn nhân tự do đã đi vào lịch sử văn hoá Việt như là một mối tình đẹp nhất, chung thuỷ, bình đẳng và cực kỳ dân chủ. Một truyện cổ về tình yêu hay hiếm hoi không chỉ ở nước ta mà còn so với cả trên thế giới.

Chử Đồng Tử là chàng trai nghèo nhất, nghèo đến mức không thể nghèo hơn thế mà được Tiên Dung là công chúa, con gái Vua Hùng cành vàng lá ngọc, cao sang, quý phái, vương giả chấp nhận lấy làm chồng. Nàng đã vượt cả quyền cha mẹ để nghe theo tiếng gọi của trái tim mình. Nàng vượt qua bao tín điều, bao nội quy, quy tắc, nguyên tắc thành văn và bất thành văn của một con vua mà đi lấy chồng không hề tương xứng, không hề "môn đăng hộ đối". Nàng phải vượt qua bao thành kiến và định kiến là lấy chồng "hoang" (Đồng Tử đích thực là kẻ "hoang", tứ cố vô thân, không nghề nghiệp, không quần không áo, lại sống chui rúc ở bãi lau bờ sậy…).

Không có một sức mạnh nhân văn cao cả, một tình thương những con người dưới đáy mạnh mẽ, bao la không thể sáng tạo ra được những chi tiết, hình tượng đầy nghịch cảnh mà tuyệt vời trong sáng này. Truyện cách ta trên dưới bốn ngàn năm mà vào ngày hôm nay, chỉ một cô gái bình thường thôi, có gia cảnh bình thường, nghề nghiệp, nhan sắc, học vấn bình thường, liệu có ai dũng cảm dám lấy chồng có thân phận như Chử Đồng Tử? Thế cho nên, không ngẫu nhiên dân gian thờ không chỉ một Đồng Tử mà còn thờ cả Tiên Dung là vì thế.

Truyện xây dựng tình huống ngẫu nhiên gặp nhau (Tiên Dung quây màn tắm ngay chỗ Đồng Tử ẩn trốn) cũng chỉ góp phần làm thêm dư vị huyền ảo, bay bổng cho câu chuyện mà thôi. Cái tài nghệ của câu chuyện vẫn nằm ở nội dung nhân văn rất đẹp kia. Ở đây tài và tình của dân gian hoà lẫn vào nhau, không tách bạch.

Truyện còn là bài ca về một ước mơ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, hoà bình.

Chử Đồng Tử học được phép thuật thần tiên, hai vợ chồng biến cải những nơi đầm lầy thành làng mạc, phố phường trù phú, họ trở thành giàu có, họ làm thuốc cứu người, họ vượt biển buôn bán… Sau khi "hoá" họ còn hiển linh giúp Triệu Quang Phục đuổi giặc Lương, còn ngầm mách Nguyễn Trãi về Lam Sơn tụ nghĩa… Câu chuyện đong đầy những ước mơ thật đẹp. Dân gian chắp cánh thêm cho ước mơ ấy cứ bay mãi. Vợ chồng họ có tài năng, trở thành giàu có. Không chỉ dừng ở đấy, họ còn làm thuốc cứu người. Họ còn vượt biển mang hàng hoá về cho người dân…

Chi tiết Đồng Tử học phép thuật chứng tỏ truyện mang màu sắc Đạo giáo rõ nét. Cho nên sau này người Việt tôn Đồng Tử là ông tổ của Đạo giáo Việt Nam nên gọi là "Chử Đạo Tổ".

Rõ ràng truyện là cả một trầm tích văn hoá, có phong tục, tập quán văn hoá bản địa, có màu sắc Nho, Phật, Lão giao thoa, tiếp biến hoà quyện vào nhau tạo nên một tổng phổ những sắc màu văn hoá, có những hình tượng lung linh đẹp mãi tỏa rạng đến hôm nay và mai sau, vượt cả biên giới để soi những ánh sáng nhân văn ở miền đất mới.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).