Chọn nhân tài cho đất nước: Cần tham khảo cách làm của người xưa

Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh chẳng ai không coi việc kén chọn kẻ sỹ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí là việc làm cần kíp.

Hàn lâm viện thừa chỉ Thân Nhân Trung soạn có đoạn viết: "Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh chẳng ai không coi việc kén chọn kẻ sỹ, bồi dưỡng nhân tài, vun trồng nguyên khí là việc làm cần kíp. Bởi vì kẻ sỹ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, cho nên được quý chuộng không biết dường nào ...".

Trong bất kỳ một chế độ nhà nước nào và vào bất kỳ thời đại nào, để bộ máy nhà nước vận hành tốt, làm tròn bổn phận của mình với xã hội đều tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhưng yếu tố có tính quyết định luôn là con người - những người phục vụ trong bộ máy đó. 

Vì vậy, việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật những người phục vụ trong bộ máy nhà nước có ý nghĩa quyết định đến đời sống nhà nước, xã hội, đến từng cá nhân con người trong xã hội.

Khoa bảng Việt Nam xưa (ảnh tư liệu).
Khoa bảng Việt Nam xưa (ảnh tư liệu).

Người tài dưới thời phong kiến Việt Nam thường được chọn theo con đường "tiến cử". Mỗi vị quan lớn của triều đình có quyền tiến cử một người tài cho nhà vua. Và nếu đó là kẻ có thực tài thì người tiến cử được khen thưởng, thăng quan tiến chức. Còn nếu tuyển nhầm người "tài hèn đức mọn" thì kẻ tiến cử sẽ bị khiển trách hoặc bị giáng chức, thậm chí mất chức. 

Con đường "chiêu hiền đãi sĩ" thời ấy rất nghiêm ngặt nên việc tìm người tài giỏi làm quan thanh liêm giúp dân giúp nước thường có độ chính xác rất cao…

Trong lịch sử khoa cử nước nhà, kể từ khi nhà Lý mở khoa thi đầu tiên vào năm Ất Mão (1075) gọi là "Tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường" cho tới khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn (1919), nước ta có 2.898 người đỗ Đại khoa. 

Vào thế kỷ thứ X, thời nhà Đinh và thời đầu nhà Lê, phong trào Nho học chưa phổ biến trong các tầng lớp nhân dân lao động. Đạo Phật được coi là "Quốc đạo", vì thế đã xuất hiện nhiều bậc cao tăng có kiến thức uyên bác như Ngô Chân Lưu, Quốc Thuận, Sư Vạn Hạnh... Những vị chức sắc Phật giáo này hầu hết đều được triều đình tiến cử làm cố vấn tối cao cho nhà vua.

Bước sang thế kỷ XI, khi kinh thành nước Việt được chuyển về đất Thăng Long, triều đình nhà Lý đã tổ chức chế độ "khoa cử" để tuyển chọn người tài. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên lấy tên là "Minh Kinh Bác Học". Tại kỳ thi này, nhà vua đã chọn được Thủ khoa Lê Văn Thịnh. Tuy nhiên trong suốt 200 năm thống trị, triều đình nhà Lý cũng chỉ mở được 6 khoa thi về Nho học và một khoa thi về "Tam giáo", gồm Nho giáo, Phật giáo và Lương giáo.

Từ thế kỷ XIII trở đi, nhà Trần kế tục sự nghiệp tuyển chọn nhân tài bằng con đường khoa cử từ các triều đại trước đó. Lúc này luật lệ thi tuyển đã đi vào độ chuẩn mực, nền nếp. Kỳ thi thời đó thường chia ra làm "Tam giáp", người thi phải lần lượt trải qua các giai đoạn Nhất giáp, Nhị giáp rồi Tam giáp. Cứ 7 năm thì mở một khoa thi. Trong suốt hai thế kỷ, nhà Trần đã mở tổng cộng được 11 khoa thi "Thái học sinh", chọn ra được 9 vị Trạng nguyên nổi tiếng như:  Mạc Đĩnh Chi, Đào Sư Tích, Nguyễn Hiền ...

Qua chế độ thi cử, triều đình phong kiến Việt Nam đã phát hiện ngày càng nhiều nhân tài cho đất nước. Nhiều vị Tiến sĩ thời đó đã trở thành trụ cột của đất nước. Trong giai đoạn này các chế độ khoa cử không chuộng "hư văn" sáo rỗng. Trong các bài văn sách dự thi Đình đều có tính thời sự, đề xuất nhiều kế sách hay để chấn hưng đất nước, hướng đến mục đích "Quốc thái dân an", trăm họ no ấm hạnh phúc và góp phần giữ vững bờ cõi biên cương, độc lập của dân tộc.

Bước sang thế kỷ XV, vào thời Hậu Lê, nền văn hiến nước ta ngày càng được mở rộng. Vua Lê Thái Tông định kỳ 3 năm mở khoa thi một lần để tuyển dụng người tài. Ông cho phép các sĩ tử có thể dự thi ở 4 trường khác nhau để kén chọn người tài. Suốt chiều dài lịch sử các triều đại phong kiến mấy trăm năm trước đó, không có thời kỳ nào thịnh vượng bằng thời "Hồng Đức" - "Quang Thuận". Đây chính là 2 niên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460 -1498). 

Vào thời Hậu Lê, nhà vua cho mở tổng cộng 29 kỳ thi Đình và đã tuyển chọn được 20 vị Trạng nguyên. Trong số này nổi tiếng nhất là Trạng nguyên Nguyễn Trực, Trạng nguyên Lương Thế Vinh, Phạm Đôn Lễ và Vũ Duệ... là những bậc hiền sĩ tài danh được lịch sử ghi chép đến ngày nay.

Đến thế kỷ thứ XVI, nhà Mạc cũng tiếp tục chú trọng đến công việc tuyển chọn người tài và mở các khoa thi đúng kỳ hạn. Cứ 3 năm có một khoa thi, bất kỳ tình huống khó khăn nào cũng được duy trì thi cử đúng hạn. 

Trong suốt triều đại họ Mạc, nhà vua đã cho mở 21 kỳ thi và chọn được 11 vị Trạng nguyên. Trong đó có Trạng nguyên Nguyễn Thiên là Cụ tổ của Đại thi hào Nguyễn Du sau này. Ngoài ra thời kỳ này cũng đã xuất hiện các nhân tài như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Phạm Trấn… vang bóng một thời.

Trạng Nguyên ngày xưa là người tài của đất nước (tranh minh họa).
Trạng Nguyên ngày xưa là người tài của đất nước (tranh minh họa).

Thời vua Lê Trung Hưng, triều đình cũng chọn nhân tài qua đường khoa cử, nhưng do sự tín nhiệm của người dân bị giảm sút nên nhiều khoa thi chỉ tìm được khoảng 10 người đậu Tiến sĩ. Thậm chí có khoa thi chỉ chọn được một vị Tiến sĩ duy nhất. 

Những năm đầu của triều đại này vẫn còn giữ được nền nếp thi cử, nhưng càng về sau càng tổ chức sơ sài và quy chế thi cử không nghiêm nên nhiều sĩ tử gian lận, mang theo cả bài làm sẵn và tài liệu vào trường thi để sao chép. Từ đó nhân tài cứ lụi tàn dần, vàng thau lẫn lộn. 

Mãi đến năm 1660, triều đình mới chấn chỉnh nội quy thi cử, nhưng lại thiếu triệt để, vì thế vấn nạn gian lận trong thi cử vẫn cứ tồn tại.

Nhận xét về sự nghiệp "khoa trường" thời kỳ này, nhà bác học Lê Quý Đôn viết trong "Kiến Văn Tiểu Lục" như sau: "Đặt khoa cử, tuy có thi tứ, phú sách, luận, thể thi văn hoa, thể thi chất thực, thể chế khác nhau nhưng tóm lại chỉ là dùng lời nói suông ứng đối lại ...". Ông còn đả kích lối văn "bác cổ" là thứ "trang sức phù phiếm", không quan hệ đến việc nước việc dân... 

Từ năm 1727 trở đi, chế độ quan trường không được công bằng, tệ tham ô hối lộ trong thi cử đã dẫn đến việc tuyển chọn nhiều người thiếu đức, kém tài. Tuy vậy, thời kỳ này lại may mắn xuất hiện những sĩ phu nổi danh như Lê Quý Đôn, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Phùng Khắc Hoan, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Thiếp, Vũ Huy Tần... 

Sau này một số sĩ phu nói trên đã theo lời hiệu triệu của nhà Tây Sơn tập hợp thành những mưu sĩ đầu quân cho Nguyễn Huệ - Quang Trung đánh đuổi quân ngoại xâm phương Bắc, thồng nhất nước nhà.

Nghĩ lại lời mở đầu trong tác phẩm "Bình Ngô Đại cáo", thi hào Nguyễn Trãi từng viết: "Nước Việt Nam ta từ trước đến nay thời nào cũng có nhân tài, hào kiệt". Tuy vậy do cơ chế tuyển chọn khác nhau, sự tâm huyết đối với dân với nước cũng khác nhau, nên nhân tài nước Việt cũng có lúc thịnh, lúc suy.

Tuy nhiên có thể nói rằng, trong lịch sử dân tộc, tuy không phải là tất cả nhưng phần lớn các nhà khoa bảng đã từng giữ những chức vụ khác nhau trong triều đình của các triều đại và mỗi người trong số họ đã từng là một điểm sáng văn hóa tạo thành giá trị của nền văn hiến vẻ vang mà các thế hệ ngày nay đang kế thừa.

Hướng tới việc tìm kiếm, đề cử người có tài, có đức cho Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 13 - 2021 sắp tới, thiết nghĩ với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, không lý gì chúng ta không làm được như người xưa. 

Nhân tài luôn là nguồn lực, là chìa khóa của mọi sự phát triển. Và như cách nói của người xưa, đó là gốc rễ của sự nghiệp chấn hưng đất nước. Muốn có nhân tài giỏi, thì trước hết phải có một nền giáo dục hoàn thiện, một cơ chế tuyển chọn, đề cử có trách nhiệm cao, đặc biệt là tính kỷ cương và tính nhân văn. Nếu không, chúng ta sẽ chỉ sản sinh ra những "nhân tài giả", những "Tiến sĩ giấy" và những cán bộ chỉ biết vơ vét cá nhân, làm hại cho đất nước.

Nguyễn Tấn Tuấn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).