“Chinh phụ ngâm”gợi mở sự kế thừa sáng tạo

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” sau gần 300 năm vẫn nguyên vẹn khả năng kích thích cảm hứng kế thừa sáng tạo của nhiều thế hệ hậu sinh. Những lời thơ “Chinh phụ ngâm” không chỉ thổn thức trái tim công chúng thi ca, mà vừa được nữ họa sĩ Ngọc Mai thể hiện sự đồng cảm bằng ngôn ngữ mỹ thuật qua một bộ tranh lụa.

Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” có tên gốc là “Chinh phụ ngâm khúc”. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, chủ yếu được viết theo lối tập cổ, dài 483 câu, thể trường đoản cú, câu dài đến 12, 13 chữ, câu ngắn chỉ ba, bốn chữ. “Chinh phụ ngâm” ra đời khoảng đầu đời Cảnh Hưng (1741) về sau được nhiều người dịch sang thơ Nôm.

nu hoa si.jpg -1
Nữ họa sĩ Ngọc Mai bên bức tranh “Vắng chàng điểm phấn tô hồng với ai”.

Theo “Từ điển văn học” (bộ mới xuất bản năm 2006) có tất cả bảy bản dịch và phỏng dịch “Chinh phụ ngâm”, gồm bốn bản dịch theo thể loại song thất lục bát và ba bản dịch theo thể loại lục bát. Các bản dịch “Chinh phụ ngâm” phổ biến được xác định của các dịch giả Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích và Nguyễn Khản (anh ruột thi hào Nguyễn Du).

Bản dịch “Chinh phụ ngâm” thành công nhất là bản dịch theo thể loại song thất lục bát, với 412 câu. “Chinh phụ ngâm” mang hình thức một lời độc thoại nội tâm, mà vai chính vai duy nhất đứng ra độc thoại trong câu chuyện, là một người vợ có chồng tham gia cuộc chiến tranh.

Nữ họa sĩ Ngọc Mai sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống văn học nghệ thuật. Vì vậy, những danh tác thi ca nước nhà luôn đem lại cho bà nhiều suy tư và cảm hứng sáng tác. Năm 2011, nữ họa sĩ Ngọc Mai từng có triển lãm “Tranh lụa Kiều”, được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Nữ họa sĩ vẽ tranh lụa về Kiều nhiều nhất”.

Bây giờ, ở tuổi 75, nữ họa sĩ Ngọc Mai vừa hoàn thành bộ tranh lụa “Chinh phụ ngâm”. Chị chia sẻ: “Tôi đồng cảm thống khổ người chinh phụ, chồng đi vào nơi gió cát mịt mùng, còn mình cô đơn, nhớ nhung, lo sợ, hờn tủi. Tôi mượn màu sắc để diễn tả những nỗi niềm người chinh phụ”.

Đồng hành và cổ vũ nữ họa sĩ Ngọc Mai ở cuộc triển lãm “Chinh phụ ngâm”, nhà thơ Lê Minh Quốc cho rằng: “Tiếng lòng của thi hào Nguyễn Du “đau đớn thay phận đàn bà”, nghe ra trong đó có tiếng thở dài. Một nỗi niềm sâu thẳm, trước đây, hiện nay và ngàn năm sau nữa vẫn còn vang vọng trong cõi hỗn mang này.

Tôi nghĩ, những tác phẩm lớn của nhân loại không bao giờ thiếu đi bóng dáng của người phụ nữ. Họ hiện diện như một ánh sáng, một cõi thiện để các đấng mày râu soi rọi lại chính bản ngã của mình. Vì lẽ đó, phụ nữ đã trở thành nhân vật trong mọi thể loại nghệ thuật; và trải qua năm tháng, chủ đề đó đã đạt đến tầm bất biến. Một khi dành cả cuộc đời cầm cọ tung tăng và trăn trở cùng các gam màu, nữ họa sĩ Ngọc Mai đã chú tâm đi tìm lại giấc mơ của đời mình.

Mỗi họa sĩ khi vẽ chính là lúc họ khám phá lại giấc mơ đã hiện hữu từ muôn một trong cõi ta bà, từ trong các phần kiếp đã đi qua, là một hành trình không bắt đầu và không kết thúc. Vậy, họ đi về đâu? Rằng thưa, họ đi về đời sống nội tâm, ghi nhận lấy diễn biến tâm trạng để trình bày lại bằng màu sắc. Âu cũng là một lựa chọn khi người nghệ sĩ nuôi dưỡng lấy giấc mơ sáng tạo”.

Nhà thơ Đặng Trần Côn (1705-1745) viết “Chinh phụ ngâm” để tố cáo chiến tranh phi nghĩa từ hai phía, người chinh phu và người chinh phụ. Đối với người chinh phu ra đi, chiến tranh là hình ảnh của chết chóc, tàn lụi “Hồn tử sĩ gió ù ù thổi/ Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi”. Đối với người chinh phụ ở nhà, chiến tranh là vò võ sầu muộn “Trâm cài xiêm giắt thẹn thùng/ Lệch làn tóc rối, lỏng vòng lưng eo”.

Ý nghĩa sâu xa của “Chinh phụ ngâm” đã đặt ra vấn đề hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc tuổi trẻ, không phải chỉ trên phương diện thuần túy tinh thần, mà là một sự khát khao mãnh liệt được gần gũi “sánh nhau cùng dan díu chữ duyên”.

Kế thừa thông điệp tiền nhân, nữ họa sĩ Ngọc Mai sáng tác bộ tranh lụa “Chinh phụ ngâm” với sáu bức tranh, ứng với sáu giai đoạn tình cảm của người chinh phụ. Bức tranh lụa thứ nhất “Áo nhung trao quan vũ từ đây” ứng với đoạn thơ mở đầu “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi/ Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên/ Xanh kia thăm thẳm tầng trên/ Vì ai gây dựng cho nên nỗi này/ Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt/ Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây/ Chín tầng gươm báu trao tay/ Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh/ Nước thanh bình ba trăm năm cũ/ Áo nhung trao quan vũ từ đây/ Sứ trời sớm giục đường mây/ Phép công là trọng, niềm tây sá nào”.

Bức tranh lụa thứ hai “Nàng một thân nuôi già dạy trẻ” diễn tả người chinh phụ thay chồng chăm lo cuộc sống ở hậu phương “Lòng lão thân buồn khi tựa cửa/ Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm/ Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam/ Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân/ Nay một thân nuôi già dạy trẻ/ Nỗi quan hoài mang mễ biết bao/ Nhớ chàng trải mấy sương sao/ Xuân từng đổi mới đông nào có dư”.

ao nhung trao quan vu tu day.jpg -0
Bức tranh Xuất chinh - “Áo nhung trao quan vũ từ đây”.

Bức tranh lụa thứ ba “Ôm đàn tranh mấy phím cầm tay” giúp độc giả hiểu thêm đoạn thơ “Sầu ôm nặng hãy chồng làm gối/ Muộn ôm đầy hãy thổi làm cơm/ Mượn hoa mượn rượu giải buồn/ Sầu làm rượu nhạt muộn làm hoa ôi/ Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng/ Ôm đàn tranh mấy phím rời tay/ Xót người hành dịch bấy nay/ Dặng xa thêm mỏi trắp đầy lại vơi”.

Bức tranh lụa thứ tư “Vắng chàng điểm phấn tô hồng với ai” diễn tả không gian trống vắng và u hoài “Đâu xiết kể trăm sầu nghìn não/ Từ nữ công phụ xảo đều nguôi/ Biếng cầm kim biếng đưa thoi/ Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa/ Mặt biếng tô miệng càng biếng nói/ Sớm lại chiều dòi dõi nương song/ Nương song luống ngẩn ngơ lòng/ Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai”.

Bức tranh lụa thứ năm “Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề” song hành tâm trạng chua xót chịu đựng “Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt/ Trống tiều khua như đốt buồng gan/ Võ vàng đổi khác dung nhan/ Khuê ly mới biết tân toan dường này/ Nếm chua cay tấm lòng mới tỏ/ Chua cay này há có vì ai/ Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi/ Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề”.

Bức tranh lụa thứ sáu “Cùng chàng lại kết nối duyên đến già” khép lại “Chinh phụ ngâm” trong mơ ước đoàn viên “Sẽ rót vơi lần lần từng chén/ Sẽ ca lần ren rén từng thiên/ Liên ngâm đối ẩm đòi phen/ Cùng chàng lại kết mối duyên đến già/ Cho bõ lúc xa sầu cách nhớ/ Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình/ Ngâm nga mong mỏi chữ tình/ Nhường này âu hẳn tài lành trượng phu”.

Bộ tranh lụa cả thảy sáu bức của nữ họa sĩ Ngọc Mai giúp công chúng thấu hiểu cảm giác “Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai/ Thiếp trong cánh cửa chàng ngoài chân mây/ Trong cửa này đã đành phận thiếp/ Ngoài mây kia há kiếp chàng vay/ Những mong cá nước vui vầy/ Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời”.

Triển lãm của nữ họa sĩ Ngọc Mai chắc chắn sẽ khơi gợi nhiều cá nhân cầm cọ khác, tiếp tục khám phá và đưa vẻ đẹp “Chinh phụ ngâm” tượng hình lên tranh vẽ. Chẳng hạn, tâm trạng này của người chinh phụ cũng đầy rung động “Tin thường lại người không thấy lại/ Hoa dương tàn đã trải rêu xanh/ Rêu xanh mấy lớp chung quanh/ Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ/ Thư thường lại người chưa thấy lại/ Bức rèm thưa lần dãi bóng dương/ Bóng dương mấy buổi xuyên ngang/ Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai”.

vang chang diem phan to hong voi ai.jpg -0
Bức tranh Nỗi sầu muộn - “Ôm đàn tranh mấy phím rời tay”.

Giá trị của tác phẩm “Chinh phụ ngâm” càng ngày càng được phổ cập trong cộng đồng. Giáo sư Nguyễn Lộc nhận định: “Với bút pháp tượng trưng, ước lệ được nâng lên mức cao, Đặng Trần Côn đã biết chiết ra từ trong kho tàng văn thơ chữ Hán cổ những câu phù hợp nhất với ý tứ của mình, và dụng công sắp xếp thành một kết cấu hoàn chỉnh, như một sáng tạo mới mẻ, phô diễn thật sát từng trạng thái khác nhau của nỗi lòng chinh phụ. Thể thơ trường đoản cú mà ông sử dụng rất giàu nhạc tính, tiết điệu”.

Theo thời gian “Chinh phụ ngâm” được lan tỏa qua các bản dịch, và hôm nay tiếp tục được lan tỏa qua bộ tranh lụa của nữ họa sĩ Ngọc Mai. Sự thấu hiểu cùng sự liên tài được tương tác giữa thi ca và mỹ thuật, chắc chắn sẽ bồi đắp thêm giá trị “Chinh phụ ngâm” theo thời gian: “Chẳng hay muôn dặm ruổi rong/ Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng/ Lòng chàng ví cũng bằng như thế/ Lòng thiếp nào dám nghĩ gần xa/ Hướng dương lòng thiếp như hoa/ Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương/ Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái/ Hoa để vàng bởi tại bóng dương”.

Tuy Hòa

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).