Chim nghiêng cánh nhỏ

Trong hành trình của đời sống và sáng tạo nghệ thuật, từ người bình thường cho tới người nghệ sĩ đôi khi ước ao mình thành một tha nhân. Rồi lại có lúc chẳng muốn làm tha nhân mà muốn làm một loài khác hẳn con người... 

Chẳng hạn Nguyễn Công Trứ từng ước kiếp sau làm cây thông (bài "Vịnh cây thông"), Nguyễn Quang Thiều ước kiếp sau làm một con chó nhỏ (bài "Bài hát về cố hương"). Và còn rất nhiều thi sĩ khác đã gửi lòng mình theo những cánh chim, qua những loài chim mà bộc lộ bao tâm sự nỗi niềm, hoặc giả cũng muốn hóa thân thành một đời sống tự do vút cao cùng mây trời phiêu lãng. Bài viết này, vì thế, sẽ luận về những loài chim trong thi ca nghệ thuật.

1.Đi vào thi ca, định danh chim trước tiên có thể xuất hiện như một cách nói chung chung bởi không sở chỉ rõ một loài cụ thể nào. Thế nhưng ngay cả trong cách dùng chung chung này ta vẫn thấy những tư duy ẩn dụ và liên tưởng khác hẳn nhau, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh.

Chẳng hạn cũng là chim trong lồng nhưng trong lời cô gái ở bài ca dao thì đó là một sự an bài, một nỗi ngậm ngùi buồn thương về một sự đã rồi, không thể thay đổi: “Bây giờ em đã có chồng/ Như chim vào lồng như cá mắc câu/ Cá mắc câu biết đâu mã gỡ/ Chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Nhưng cũng là chim trong lồng trong bài thơ của Nguyễn Hữu Cầu (thế kỷ XVIII) thì lại là một khí thế hoàn toàn khác. Người anh hùng khi sa cơ vẫn ngẩng cao đầu kiêu hãnh, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng: “Mặc bay Đông ngữ Tây đàm/ Chờ khi phong tiện dứt dàm vân lung/ Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán/ Phá vòng vây làm bạn kim ô/ Giang sơn khách diệc tri hồ”.

Thời trung đại, có những cánh chim xuất hiện trong sự mệt mỏi cô đơn, rợn ngợp trong không gian rộng lớn và lòng người dường cũng nương theo nỗi buồn mênh mang hoặc những âu lo dự cảm: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Chiều hôm nhớ nhà - Bà huyện Thanh Quan), “Chử thanh sa bạch điểu phi hồi” (Bến trong cát trắng lượn chim cồn) (Đăng cao – Đỗ Phủ), “Chim hôm thoi thót về rừng” (Truyện Kiều – Nguyễn Du), “Con chim bạt gió lạc loài kêu thương” (Chinh phụ ngâm – bản dịch Đoàn Thị Điểm).

Những cánh chim cô đơn và rợn ngợp ấy sẽ còn gặp lại nhiều trong thời kỳ 1932 - 1945 với nỗi buồn u uẩn của nhiều nghệ sĩ lãng mạn: “Chim nghe trời rộng giang thêm cánh” ("Thơ duyên" – Xuân Diệu), “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” (Tràng giang – Huy Cận), “Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời/ Cùng mây xám về ngang lưng trời” ("Đêm đông" – Nguyễn Văn Thương).

Hình tượng cánh chim trời đã đi vào thơ ca, nhạc họa - (Ảnh mang tính minh họa)
Hình tượng cánh chim trời đã đi vào thơ ca, nhạc họa - (Ảnh mang tính minh họa)

Dĩ nhiên, bên cạnh cánh chim cô đơn, mỏi mệt và u buồn, chim cũng biểu hiện một tình yêu thiên nhiên cuộc sống của người thi sĩ, chẳng hạn những câu trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi: “Trì tham nguyệt hiện chăng buông cá/ Rừng tiếc chim về ngại phát cây” (Mạn thuật, bài 6), “Núi láng giềng chim bầu bạn/ Mây khách khứa nguyệt anh tam” (Thuật hứng, bài 19).

Sau này, trong thời hiện đại, có nhiều những cánh chim đi vào thi ca vởi những giá trị biểu cảm tích cực, thể hiện tình yêu tự do, vẻ đẹp cuộc sống hoặc khát vọng cống hiến: “Tôi như con chim đang bay trên đồi cao” ("Đi tìm lời ru nữ thần mặt trời" - Nhạc và lời: Y Phôn KSor), “Ta làm con chim hót/ Ta làm một nhành hoa” ("Mùa xuân nho nhỏ" - Thanh Hải), “Nếu là con chim chiếc lá/ Thì con chim phải hót chiếc lá phải xanh” (Tố Hữu), “Có chú chim từ mờ sương hay hót véo von nghe véo von” ("Em nhớ Tây Nguyên" – Nhạc và lời: Trần Quang Huy). Có những câu thơ tài hoa, xuất sắc của một đời thơ gắn với chim, điển hình nhất là trường hợp Khương Hữu Dụng trong trường ca "Từ đêm mười chín": “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng”.

2. Giờ đi vào trường hợp những loài chim với tên gọi cụ thể xuất hiện trong thi ca. Theo các tài liệu sinh học, trên toàn thế giới có tới hơn 10.000 loài chim, còn ở Việt Nam cũng có tới 848 loài chim thuộc 88 họ. Lẽ dĩ nhiên khi đi vào thơ ca, chỉ có một số loại chim được lựa chọn. Sự lựa chọn ấy gắn với tư duy thẩm mỹ, thi pháp của từng thời kỳ cũng như những đặc điểm về văn hóa truyền thống quy định và tạo nên. Theo khảo sát của chúng tôi, những loài chim được đưa vào thi ca của người Việt nhiều nhất là cò, họa mi, sơn ca, én (nhạn), sáo và bồ câu.

Cánh cò có thể nói đã có mặt từ sớm trong những bài ca dao lâu đời, như một hình ảnh thân thuộc trên những cánh đồng của nông thôn Bắc Bộ: “Con cò bay lả bay la/ Bay từ cửa phủ bay ra cánh đồng”. Cánh cò thường được liên tưởng, ví von với thân phận người phụ nữ mảnh mai vất vả, một nắng hai sương: “Con cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non”.

Không chỉ là người phụ nữ, cánh cò còn gợi nên liên tưởng chung về những thân phận bé mọn, vất vả, nhiều khi không thể tự quyết định số phận của mình mà phải phó thuộc vào bàn tay kẻ khác. Bài ca dao nổi tiếng “Con cò mà đi ăn đêm” là một minh chứng điển hình: “Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng/ Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”.

Sang thời trung đại, con cò trong thơ Tú Xương vẫn được so sánh với hình ảnh vất vả sớm khuya của bà Tú, người “nuôi đủ năm con với một chồng”: “Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông” (Thương vợ). Nhưng đến thời kỳ hiện đại, cụ thể là từ nửa đầu thể kỷ XX, bắt đầu có những chuyển biến về tư duy – cảm quan thẩm mỹ trong việc đưa cánh cò vào thi ca. Câu thơ của Xuân Diệu trong bài “Thơ duyên” được Hoài Thanh ca ngợi: “Từ cánh cò của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều tới cánh cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân có sự cách biệt của hơn một ngàn năm và của hai thế giới: “Mây biếc về đâu bay gấp gấp/ Con cò trên ruộng cánh phân vân”.

Cho đến bài thơ “Con cò” nổi tiếng của Chế Lan Viên, hình tượng này đã có bước phát triển qua nhiều cung bậc ngữ nghĩa để từ cánh cò trong giấc mơ tuổi thơ đi đến cánh cò ước mơ hoài bão và rồi cuối cùng là cánh cò của tình mẫu tử: “Lên rừng xuống bể/ Cò sẽ tìm con/ Cò mãi yêu con/ Con dù lớn vẫn là con của mẹ/ Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con”.

Họa mi và sơn ca đều là những loài chim có tiếng hót hay, dễ làm lòng người say đắm và xúc động. Họa mi xuất hiện sớm nhất trong thi ca thành văn của người Việt có lẽ là từ Tản Đà với bài “Chim họa mi trong lồng”.

Ở đây, họa mi đã bị thi sĩ gán cho ý nghĩa phản bội, lãng quên cội nguồn, ngụ ý đả kích phê phán những kẻ bán nước: “Họa mi ai vẽ nên mi/ Trông mi mi đẹp hót thì mi hay/ Ai đưa mi đến chốn này/ Nước trong gạo trắng mi ngày ăn chơi/ Lồng son cửa đỏ thành thơi/ Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi/ Nghĩ cho mi cũng gặp thì/ Rừng xanh mi có nhớ gì nữa không?” Nhưng cho đến “Họa mi hót trong mưa” (nhạc và lời Dương Thụ) thì cảm quan khác hẳn, chỉ còn là sự buồn thương, gieo giắc vào lòng người những thanh âm của nỗi niềm nhớ nhung trông ngóng: “Tiếng mưa rơi ngoài hiên gió mưa như lạnh thêm/ Có con chim họa mi hót trong mưa buồn lắm(...) Ôi trong mưa họa mi vẫn hót thật dịu dàng dịu dàng/ Trên môi em tình yêu đã mất còn nồng nàn nồng nàn...”.

 Khác với họa mi, sơn ca xuất hiện trong nhiều ca khúc viết cho thiếu nhi và luôn gợi âm hưởng vui tươi trong sáng rộn rã. Có tới ít nhất ba ca khúc nổi tiếng với sự xuất hiện của chim sơn ca, đó là các bài “Như bầy sơn ca” (Y Vân), “Khúc hát chim sơn ca” (Đỗ Hòa An) và “Ước mơ hồng” (Phạm Trọng Cầu): “Như chim sơn ca hót trên cao xanh bao la, tiếng chim ngân nga tiếng chim bay xa tiếng chim vui vào mọi nhà” (Ước mơ hồng).

Còn với chim én, loài chim hiền lành này được coi là báo hiệu của mùa xuân, luôn thể hiện tình đoàn kết và đi vào vô số các tác phẩm âm nhạc nổi tiếng trong thế kỷ XX. Bắt đầu từ “Mùa chim én bay” (thơ Diệp Minh Tuyền, nhạc Hoàng Hiệp), “Tạm biệt chim én” của Trần Tiến cho đến “Cánh én tuổi thơ” của Phạm Tuyên, các ca khúc đã làm say đắm bao thế hệ người nghe.

Một loài chim khác của mùa xuân là chiền chiện cũng đi vào thi ca và những lời thơ tiếp tục được âm nhạc chắp cánh: “Ôi con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay hứng về” ("Mùa xuân nhỏ nhỏ" - Thơ: Thanh Hải, Nhạc: Trần Hoàn), “Bay cao bay vút/Chim biến mất rồi/ Chỉ còn tiếng hót/ Làm xanh da trời” ("Con chim chiền chiện" – Huy Cận)

Một số loài chim đặc biệt khác dù chỉ xuất hiện một lần trong thi ca nhưng đã nhanh chóng tạo được những ám ảnh nghệ thuật, khắc sâu vào trí nhớ người đọc: “Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản” (Thôi Hiệu), “Anh là chim bói cá/Em là ánh trăng ngà/Cách nhau một mặt hồ/Mà muôn trùng chia xa” (Du Tử Lê)

Xin được khép lại bài viết bằng những cánh chim yêu thương trong ca khúc "Cho con" của cố nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu. Cánh chim xuất hiện ngay từ câu đầu của bài hát trong tình cảm của người cha và cánh chim ấy cũng kết thúc ca khúc khi gắn với hình ảnh người con khôn lớn trưởng thành vẫn mãi hướng về quê hương và cha mẹ: “Ba sẽ là cánh chim cho con bay thật xa (...) Rồi mai đây khôn lớn bay đi khắp mọi miền, con đừng quên con nhé ba mẹ là quê hương...”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...