Về tên khai sinh của quần đảo cực Tây - Nam Tổ quốc:

‘Châu’ hợp lý hơn ‘Chu’

Tại kỳ họp thứ 13 (bất thường) ngày 22/10/2014, HĐND tỉnh Kiên Giang khoá VIII đã thông qua tờ trình về việc thành lập huyện đảo Thổ Châu trên cơ sở toàn bộ xã đảo Thổ Châu, huyện Phú Quốc hiện tại. Như vậy tới đây, Kiên Giang có 3 huyện đảo (Phú Quốc, Kiên Hải, Thổ Châu), trong đó Thổ Châu là huyện tiền tiêu trên vùng cực Tây - Nam Tổ quốc. Tuy nhiên thực tế thời gian qua cho thấy việc nói, viết tên quần đảo tiền tiêu này chưa có sự thống nhất cao.

Lúc "Châu", khi "Chu":

Thổ Châu là quần đảo cực Tây - Nam của Tổ quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích tự nhiên gần 21km2: Thổ Châu, Hòn Nhạn, Hòn Khô, Hòn Cao Cát, Hòn Cao, Hòn Từ, Hòn Kèo Ngựa, hòn Đá Bàn. So với 7 hòn còn lại, danh xưng Thổ Châu "biến động" nhiều nhất và cũng thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội nhất. Đến nay đang tồn tại hai cách thể hiện một danh xưng này trong nói và viết: "Thổ Châu" và "Thổ Chu".

Điển hình cho nhóm thể hiện "Chu" là các tác phẩm: "Nước Việt Nam thống nhất", "Kể về hải đảo của chúng ta” (1984), "Từ điển Địa danh văn hoá và thắng cảnh Việt Nam" (2004), Từ điển Đơn vị hành chính Việt Nam (2007)… Có tác giả còn giải thích rõ: "Quần đảo nằm trên vùng biển rộng khoảng 50km2, trong đó Thổ Chu là hòn lớn nhất do đó quần đảo ở đây mang tên chung là Thổ Chu" (Kể về hải đảo của chúng ta- tr 80). Trong khi đó, người dân Kiên Giang và các tác phẩm do người vùng đồng bằng sông Cửu Long viết, lại thể hiện là Thổ Châu. Thậm chí danh xưng Thổ Châu còn trở thành tên đơn vị hành chính của quần đảo này: Xã Thổ Châu (trước đây) và huyện Thổ Châu (trong tương lai không xa).

Bảng hiệu của Đồn Biên phòng trên đảo cũng viết rõ: Thổ Châu.
Bảng hiệu của Đồn Biên phòng trên đảo cũng viết rõ: Thổ Châu.

Có điều "hơi bị… lạ" là cả hai cách gọi tên cho một địa danh này đều xem như "hợp pháp" vì được in ấn, phổ biến công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như sách vở và giao tiếp trong công việc lẫn đời thường. Và cách sử dụng nào cũng có những lý giải "hợp lý" khác nhau. Nhóm sử dụng danh xưng "Thổ Chu" giải thích "Chu" là từ Hán Việt có nghĩa là đỏ, và Thổ Chu là đất đỏ, do phần lớn đất ở đây có màu đỏ. Còn nhóm sử dụng danh xưng "Thổ Châu" vì cho rằng "Châu" là từ Hán Việt có nghĩa là ngọc, và Thổ Châu là vùng đất ngọc, đất quý vì vùng này có nhiều điệp (trai) để khai thác ngọc, nói rộng hơn là vùng đất quý. Và quan điểm nào cũng có cơ sở…

Thực tế cho thấy đất ở Thổ Châu có sắc đỏ vượt trội là sự thật. Tài liệu (lưu hành nội bộ) "Thổ Châu, quần đảo Việt Nam" của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Kiên Giang ghi nhận: "Hòn Thổ Châu do đá sa thạch cấu tạo thành, nhưng màu trội nhất ở đây là màu xám hoặc hồng…". Trong khi đó, thực tế ở Thổ Châu cho thấy vùng biển này cũng là "thủ phủ" của nhiều động vật biển quý như: đồi mồi, điệp (trai)…

Vì sao lẫn lộn?

Trước hết phải xác định cả "Châu" lẫn "Chu" đều là từ Hán Việt. Vì vậy, có thể về lịch đại, cả hai từ này chỉ có một cách phiên âm duy nhất, nhưng trải qua thời gian do ảnh hưởng cách phiên âm của thời "bút nguyên tử" nên dẫn đến sự khác biệt, nhất là giữa hai miền Nam và Bắc. Có thể tìm thấy điều này trong các trường hợp "biến âm gần" đọc trại âm như: cùng Hán tự là Phước (14 nét, bộ kỳ) có nghĩa là may mắn, tốt lành, nhưng ở miền Bắc phiên âm là Phúc, trong khi đó ở miền Nam đa số phiên âm là Phước. Tương tự là Cảnh/Kiểng, Bảo/Bửu, Chính/Chánh, Nguyên/Ngươn, Nguyệt/Ngoạt,…

Vì sao có sự khác biệt này? Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nguyên nhân cơ bản là do ảnh hưởng tục kỵ húy của triều Nguyễn. Theo đó, những từ nào có âm trùng với tên của người có chức vị to lớn trong hoàng tộc… thì phải "húy" bằng cách đọc trại âm đi. Trường hợp chữ "Châu" và "Chu" là một trong số này. Theo nhà văn Anh Động, nguyên Chủ tịch Hội VH - NT Kiên Giang, người dành nhiều thời gian nghiên cứu về Thổ Châu thì danh xưng Thổ Châu xuất hiện vào thời vua Gia Long (1762-1820) và nhiều khả năng do chính người sáng lập triều Nguyễn đặt tên để "tri ân" hòn đảo mà mình đã "đứng chân" những ngày bôn tẩu...

Vì là hậu duệ của Chúa Nguyễn, trong đó có Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1825), nên chữ Chu được đọc biến âm thành Châu và nhanh chóng được người ở vùng đất mới Nam bộ sử dụng cả trong nói lẫn viết. Trong khi đó, do ảnh hưởng của bề dầy Nho học, người phía Bắc vẫn giữ cách đọc truyền thống là Chu. Cụ thể tại khu vực đặt cột mốc chủ quyền trên đảo Thổ Châu đang tồn tại song song hai cột mốc với hai cách phiên âm khác nhau: Cột mốc chủ quyền do chính quyền Sài Gòn lập vào năm 1956 ghi là đảo "Thổ Châu", còn cột mốc được một số cán bộ từ miền Bắc chi viện vào thành lập sau ngày 30-4-1975 lại thể hiện là "Thổ Chu".

"Châu" hợp lý hơn "Chu":

Theo "Hán Việt từ điển" (Đào Duy Anh, 1951), ngoài trường hợp có nghĩa tương đối gần nhau là "đỏ" thì giữa "Châu" và "Chu" có nhiều điểm khác nhau. Trong lúc Châu có đến 7 cách (chữ) thể hiện với 7 nghĩa khác nhau, thì Chu cũng có đến 3 cách thể hiện với 3 nghĩa khác nhau. Mặt khác, về mặt đương đại, ở Nam bộ, Châu và Chu là hai từ hoàn toàn khác nhau trong nói và viết bằng chữ Quốc ngữ (chính tả). Và vì đây là danh từ riêng của vùng đất (địa danh) nên không thể thay thế nó bằng "biến thể ngữ âm của nó" như đối với các danh từ chung một cách tùy tiện được. Bởi như thế là thiếu tôn trọng lịch sử, và dễ dẫn đến ngộ nhận với những hệ lụy khó lường sau này. Do vậy, việc làm rõ để hiểu và dùng đúng chữ là hết sức cần thiết trong bối cảnh tranh chấp trên biển đang ngày càng phức tạp. Nhất là đối với vùng tiền tiêu có nhiều ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - quốc phòng như Thổ Châu.

Biển bên ngoài mốc chủ quyền cũng viết Thổ Châu.
Biển bên ngoài mốc chủ quyền cũng viết Thổ Châu.

Với ý nghĩa đó, chúng tôi xin có ý kiến nhỏ với mong muốn góp phần làm sáng tỏ một vấn đề đòi hỏi lớn về học thuật.

Trước hết phải thấy rằng, về mặt Hán tự, Chu có nghĩa là đỏ và Châu có nghĩa là ngọc, quý thể hiện khác nhau hoàn toàn: Chu (có 6 nét, bộ mộc) và Châu (có 10 nét, bộ ngọc). Thứ hai, nếu đặt trong trường nghĩa "khai sinh" tên một số hòn đảo ở khu vực này theo nghĩa nội hàm là cao sang, quý báu như đảo Phú Quốc… thì khả năng Châu trong Thổ Châu là ngọc là hợp lý hơn và đáng tin hơn. Điều này càng được củng cố hơn bởi sự trùng khớp với tài liệu thể hiện trong Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức 1765-1825), công trình địa phương chí quan trọng của Nam bộ thời Nguyễn. Trong tác phẩm này (phần chữ Hán), đảo Thổ Châu được thể hiện là Thổ Châu dữ, trong đó dữ có nghĩa là "đảo nhỏ". Như vậy, tên gọi của quần đảo tiền tiêu Tây Nam của Tổ quốc là Thổ Châu hợp lý hơn Thổ Chu.

Rất mong từ cơ sở này các cơ quan chức năng sớm xem xét để có biện pháp chấn chỉnh trên tinh thần "lịch sử, khoa học, văn hóa và tính nhất quán của phương ngữ Nam bộ".

"Quần đảo Thổ Châu có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế và quốc phòng, là tuyến phòng thủ phía Tây Nam của Tổ quốc, án ngữ đường hàng hải quốc tế đi Malaysia, Indonesia, Thái Lan và các nước trong khu vực Đông Nam Á. Vùng biển này là nơi giàu tài nguyên khoáng sản, trữ lượng hải sản phong phú, đa dạng… Khí hậu ở đây là nhiệt đới ẩm, gió mùa, rất thuận lợi cho việc trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt nuôi trồng thủy, hải sản".

(trích Diễn văn kỷ niệm 20 năm xây dựng và phát triển xã đảo Thổ Châu 1993-2013)

Lục Tùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).