Sách của Lê Công Sơn, NXB Hội Nhà văn, 2018

Chất Quảng và Sài Gòn trong tạp bút “Răng mà thương mà nhớ”

“Nửa đời người, còn gì hạnh phúc hơn khi cuộc đời này có quê nhà để nhớ, bến neo đậu những tình cảm riêng tư trên bước đường mưu sinh mệt mỏi và chuẩn bị hành trang cho một ngày sẽ quay về….” - Sơn viết như thả lòng mình với “Bến quê xa” như vậy…

Cư dân Sài Gòn thuở khẩn hoang đa số có nguồn gốc Ngũ Quảng. Gương mặt người Sài Gòn gốc có "gien Quảng Nam" (mặt vuông, vai ngang, da ngăm, thẳng tính, rõ ràng - cái gì ra cái đó, phóng khoáng...). Trên con đường của Sài Gòn xưa - Trần Quang Khải (quận 1, TP. Hồ Chí Minh) có đình Ngũ Quảng; có đình Nam Chơn (đình của người dân làng Chơn Sảng - Quảng Nam ở phía Nam)…

Người Quảng Nam vô Sài Gòn như gặp lại bà con xa xứ; sống ở Sài Gòn thoải mái như sống ở quê nhà. Giọng Quảng là tiền thân, góp phần tạo nên giọng gốc Sài Gòn, nên nói như GS Hồ Chung Tú - một người con xứ Quảng: "Người Quảng Nam ra Huế 30 năm vẫn nói tiếng Quảng, nhưng vô Sài Gòn nửa năm là nói giọng Sài Gòn".

Bao nhiêu cư dân Sài Gòn hôm nay gốc gác nhiều đời trước là người xứ Quảng? Có lẽ không có cư dân xứ Quảng, người Sài Gòn hôm nay hẳn không giống hôm nay.

Nhà báo Lê Công Sơn cũng vậy. Gần 30 năm ở Sài Gòn; 23 năm làm báo Thanh Niên ở Sài Gòn, anh nói giọng Sài Gòn như người Sài Gòn; sống kiểu Sài Gòn (đâu ra đó) không khác người Sài Gòn! Vậy đó, nhưng cũng như người Sài Gòn gốc, chất Quảng - quê hương xứ Quảng luôn như những mảnh tình không thể nào dứt bỏ. "Phiêu bạt nơi phồn hoa cát bụi" Sài Gòn ngần ấy năm, từ sâu thẳm tình quê, "Thằng nhà quê" xứ Quảng ấy nhớ khôn nguôi bến cũ, vườn xưa – dù có thể nó nghèo đến thắt ruột gan.

Thắt lòng như khi tôi nghe tiếng rao vọng trong nỗi nhớ tuổi thơ của Sơn: “Cà rem cây đây, kem đổi nhum nhựa, dép đứt, xoong nồi bể...bán đâyyyyyy" (Cây cà rem tuổi thơ).  Tháng 8-1999, khi viết bài về một học trò xứ Quảng bán cà rem sau giờ học, tôi đã đạp xe đi bán cùng người bạn nhỏ ấy trên những con đường thôn cháy nắng miền Trung trên cát nóng. Không thể nào quên buổi trưa nắng miền Trung ấy, đến mức phần mở bài tôi viết: “Chưa bao giờ tôi thấy nắng nhiều như thế…”.

Có như vậy mới thấm hơn “Cây cà rem tuổi thơ” mát lạnh của Sơn: “Hồi nhỏ, cứ 8 - 9 giờ sáng trong khu xóm nhỏ Xuân Đồng của tôi ở quê, đám trẻ con lại rộn ràng hẳn lên khi nghe tiếng rao kem của ông Quý. Và cũng chính vì thèm ăn cây cà rem đường hóa học của người bán hàng rong này mà ngày nào cả buổi trưa tôi cũng lội khắp các vườn sắn, luống khoai nắng chói chang để tìm kiếm mảnh bom, vỏ đạn. Nhiều hôm bí quá, nhìn thấy mấy nồi nhôm sứt quai, móm đít tôi lén má đem đổi kem ăn, nếu chẳng may bị phát hiện thì chỉ có nước nằm chịu trận roi quất... bầm đen”.

Xứ Quảng nắng cháy đất mà bão cũng tối trời. Những ngày đầu tháng 9 này, Sài Gòn mưa dầm. Làm sao Sơn có thể không nhớ đến mùa mưa lũ quê mình khi trời “mấy ngày nay cứ sụt sùi, mưa to như nước thủy điện xả lũ”, “Mây vần vũ, mưa trút xuống như cầm chĩnh đổ. Nước lai láng, trắng trời. Chợt nhớ tới nghề đặt ..lờ thời đi học kiếm sống, thấy háo hức” (Bão về đi đặt lờ…).

Nắng cũng nhớ, mưa bão cũng nhớ, nói chi cha mẹ, người thân của mình. Vậy mới hiểu dòng chữ của người con đang ở Sài Gòn trong đêm mưa: “Con đi công tác xa, ở Sài Gòn nửa đêm nghe radio báo trời đang trở lạnh má lại lồm cồm ngồi dậy loay loay bấm phím điện thoại, chỉ dặn phải giữ ấm, nằm ngủ kéo chăn cho kín người chứ không đau xuống thì khổ” (Cõng mẹ đi chơi).

Thương răng là thương mẹ con nhà nghèo xứ Quảng trong tạp bút!

Nhớ chi là nhớ ngôi trường và thầy trò nghèo xứ Quảng trong tập sách: “Lớp tôi có mấy chục mạng nhưng đa phần đều nghèo. (…) Ngày nghỉ cả lớp hay đến nhà hỗ trợ nhau trong công việc đồng áng: gánh phân, cắt lúa, phát mía, trồng sắn…”; “Tôi nhớ thầy chủ nhiệm Đặng Ngọc Huệ năm 12 lúc ấy khổ lắm. Cái yên chiếc xe đạp của thầy gục lên gục xuống phải cột vào nửa cục gạch ống, vậy mà chưa bao giờ đứa nào dám cười vì điều này hoặc vô lễ với thầy...” (Ngôi trường nhỏ của tôi)…Để khi đi giữa Sài Gòn hối hả, Sơn vẫn cố tìm về quê xưa khi qua “một không gian êm đềm với những ngôi nhà mái ngói, tường rêu phong cổ kính tưởng chỉ còn trong thi ca, nhạc họa. Nhiều quán cà phê khách vẫn có thể nhìn lá vàng rơi qua khe cửa” (Người Sài Gòn tốt bụng).

Chất Quảng - chất Sài Gòn cứ lẫn lộn trong Sơn như vậy:

“Trưa nghe tin bão tới miền Trung
Thương quê nghèo, lòng đau tê tái
Sài Gòn lòng phố vẫn đông vui
Nâng chén cơm nửa chừng nghẹn lại”.

(Thương lắm miền Trung)

…“Nửa đời người, còn gì hạnh phúc hơn khi cuộc đời này có quê nhà để nhớ, bến neo đậu những tình cảm riêng tư trên bước đường mưu sinh mệt mỏi và chuẩn bị hành trang cho một ngày sẽ quay về….” - Sơn viết như thả lòng mình với “Bến quê xa” như vậy…

Tập tạp bút chỉ hơn 200 trang nhưng như ngập trong những mảnh tình vội vã như sợ mất ấy. Nhưng tôi tin không chỉ tôi, ai cầm tập sách, có bài chỉ vài trăm chữ, vài dòng thơ... nhưng "Răng mà thương mà nhớ" những tâm tình rất Quảng Nam nhưng cũng rất Sài Gòn: sống vội vã giữa dòng mưu sinh hôm nay vẫn ngồn ngộn ân tình với nơi nuôi dưỡng, ân tình với mình ngày xưa. Người xứ Quảng là vậy, không lẫn đâu được.

…Những ngày ra tập sách đầu tay này, hình như Sơn rối lên như trẻ thơ với ân tình cũ, nỗi niềm xưa. Khi yêu, ai lại không hồn nhiên thơ trẻ.

"Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm - Rượu Hồng đào chưa nhấm mà say"... Tôi cầm tập sách nhỏ của Lê Công Sơn, đọc từng dòng và say trong từng nỗi lòng, từng con chữ của một người con xứ Quảng - một con người Sài Gòn...

Tuổi thơ, quê nhà, gia đình… luôn bàng bạc trong các sáng tác của Lê Công Sơn. Anh viết như “rút ruột”  mình với một tình yêu, thương nhớ nơi đã sinh ra thật sâu đậm và dạt dào cảm xúc. Những con chữ nhẹ nhàng, đơn giản như lời thủ thỉ, tâm sự của tác giả, mà chính nó đã biết tự rung lên cung bậc để đi tới trái tim, tìm đến sự đồng cảm của độc giả. Ngay cả cách đặt tựa cho tác phẩm này, tôi cho rằng cũng đã nói lên “chất xứ Quảng” nồng ấm, luôn đau đáu nghĩ về quê hương ở anh.

Đọc tạp bút "Răng mà thương mà nhớ", tôi thấy có bóng dáng của mình ở đó với tình mẹ cha bao la thẳm sâu như nguồn cội, sự hiếu thảo của những đứa con và trên hết là cái nghĩa, cái tình luôn biết vì nhau trong cuộc đời này. 

Nhà thơ Trương Nam Hương
Cù mai Công

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).