Chằn tinh là con gì?

Cổ tích, thần thoại, truyền thuyết luôn có nhân vật ma quỷ, yêu tinh biểu trưng cho cái ác, cái xấu... Con chằn tinh trong truyện cổ Việt được hình thành từ đâu, biến hóa, thay hình đổi dạng thế nào... vẫn là một đề tài cần nghiên cứu, vì mỗi mã văn hóa luôn là một hố sâu huyền thoại “không có đáy”. Sức hấp dẫn mời gọi của nó cũng là ở đấy.

Truyện “Thạch Sanh” của ta thuộc loại cổ tích thần kỳ theo môtíp “Dũng sĩ diệt đại bàng/chằn tinh cứu người đẹp” phổ biến ở Đông Nam Á, như truyện “Xin Xay” ở Lào; “Thạch Sanh chém chằn” (Campuchia); “Ramayana” (Ấn Độ); “Cô gái tóc thơm” (Thái Lan)... Chịu sự khúc xạ, quy chiếu của quan niệm, phong tục, tập quán văn hóa mà con yêu tinh đội những “lốt” (con vật/cây cối) tạo ra các cách hiểu với những ý nghĩa khác nhau.

untitled-1.jpg -0
Thạch Sanh đánh Trăn tinh (Tranh dân gian Đông Hồ).

1. Dựa vào quy luật biến âm của ngôn ngữ, có giả thuyết cho rằng, “chằn” là con cọp, vì “chằn” là đọc chệch âm của “dần” (tức cọp). Việc biến âm từ “ân” sang “ăn” rất phổ biến trong tiếng Việt, như “hận” (oán hận) biến thành “hằn” (thù hằn). Tương tự, “dần” biến âm thành “dằn” trong “dữ dằn”, viết đầy đủ phải là “dữ như dằn” hay “dữ như cọp”. Còn có sự chệch âm “d” thành “ch”, như “dằng dịt” vẫn được hiểu là “chằng chịt”… Thế nên “dần” biến thành “dằn” rồi ra “chằn”.

2. Dựa vào quy luật tiếp biến văn hóa, có ý kiến lý giải người Nam bộ xưa gọi “Mã Lai” là “Bà Lai”. “Bà chằn” có gốc từ tiếng Mã Lai, “machan” nghĩa là con cọp. Về sau nghĩa mở rộng, “bà chằn” chỉ những người phụ nữ đanh đá, nanh nọc (Xấu như bà chằn, dữ như bà chằn). Hai cách giải thích trên thú vị, có khám phá, rất đáng tham khảo nhưng còn thiên về suy diễn bởi mới dựa vào phần vỏ âm thanh chứ chưa căn cứ vào cái lõi biểu tượng, nhất là xa với cổ mẫu nguyên thủy.

3. Căn cứ nội dung và họ của nhân vật chính, lại có nhận xét truyện “Thạch Sanh” xuất phát từ vùng Nam Bộ. Họ Thạch là một họ phổ biến của người Khmer. Tên gọi “chằn” cũng là từ sự đọc chệch âm của từ “Yeak” một sinh vật trong huyền thoại Khmer có nguồn gốc từ “Yaksha” (tức quỷ Dạ Xoa) của Phật giáo Nam tông. Con “Yeak”, hay “Yaksha”, hay “Dạ Xoa” giống người nhưng to lớn và hung hãn, răng nanh dài, tai nhọn, da xanh, mũi ngắn, rất đáng sợ nhưng có chức năng như vị thần bảo vệ chùa chiền, dân lành, mang ý nghĩa cái thiện chiến thắng cái ác.

untitled-2.jpg -1
Tượng Yeak thường được đặt trước chánh điện chùa Khmer.

Xét từ cấu trúc ý nghĩa, biểu tượng văn hóa luôn được gửi vào đó bao khát khao, ước mơ về quan niệm sống nhân ái, vị tha, về sự chiến thắng của cái tốt, cái thiện nên hầu như dân tộc nào cũng có “Thạch Sanh” của riêng mình. Theo thời gian, chịu sự chi phối của tiếp biến văn hóa mà các môtíp truyện, các nhân vật, chi tiết có thể thay đổi. Do vậy chỉ bằng một vài dấu hiệu hình thức để “khẳng định” truyện “Thạch Sanh” ra đời ở vùng văn hóa này chứ không phải vùng văn hóa kia, là chưa có cơ sở. Ngay đặc trưng “dị bản” (bản khác) của cổ tích cũng nói lên điều này.

Xin căn cứ vào “Lĩnh Nam chích quái”, kể rằng thời xưa đầy yêu ma phá hoại dân lành. Vua Lạc Long Quân quyết trừ ma trấn quỷ, đã diệt Ngư tinh ở biển, diệt Hồ tinh ở núi. Trên đất Phong Châu có cây chiên đàn cao ngàn trượng chết khô hóa thành Mộc tinh hung ác, thường thay hình đổi dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật.

“Chiên đàn” vốn là loài cây được nhắc đến trong văn hóa phương Đông cổ xưa, là nơi để yêu quái trú ngụ. Phiên âm của “chiên đàn” là “chàn” hoặc “chằn”. “Chiên đàn” cũng là âm Nôm của từ “chằn”. Hiểu theo cách này thì “Mộc tinh” là “chằn tinh”. Chằn tinh (Mộc tinh) khác với “quỷ Xương Cuồng”. “Lĩnh Nam chích quái” kể tiếp, Kinh Dương Vương dùng nhạc (khí) mà đánh thắng yêu (Mộc tinh/Chằn tinh), yêu hơi chịu nhún nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa khôn lường, thường ăn thịt người rồi hóa thành quỷ Xương Cuồng. “Xương cuồng” nghĩa nguyên thủy là hung dữ, rồ dại, thường để chỉ con hổ. Như vậy, bị Kinh Dương Vương khuất phục nên yêu tinh phải biến thành Xương Cuồng, tức đội “lốt” hổ để tồn tại.

Trong sách “Huyền học” có vị thần dữ được gọi là Bạch Hổ xương cuồng (hổ trắng gầm rú điên cuồng). Lại có thành ngữ Hán “đại đảm xương cuồng” (gan lớn làm trò rồ dại). Vẫn theo “Lĩnh Nam chích quái”, đến thời Đinh, quỷ Xương Cuồng lại quấy nhiễu, vua Tiên Hoàng mời pháp sư tìm cách trừ diệt. Pháp sư lập kế mở hội lớn làm các trò tạp kỹ, cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Nghe tiếng chiêng trống, phèng la, vui tai vui mắt, Xương Cuồng bò ra, mải mê xem nên bất ngờ bị pháp sư chém chết.

Truyện này có ba điểm đáng lưu ý: một là, Mộc tinh nguy hiểm hơn Ngư tinh và Hồ tinh. Hai là, từ xa xưa cha ông ta đã mượn tới nghệ thuật (tạp kỹ) làm phương tiện đánh đuổi kẻ ác. Ba là, dù là yêu tinh nhưng vẫn bị nghệ thuật hấp dẫn. Chi tiết tiếng đàn trong truyện “Thạch Sanh” nằm trong quan niệm này: nghệ thuật thức tỉnh con người (làm công chúa đang câm tự nhiên nói được); nghệ thuật thuyết phục, cải hóa con người (ru ngủ quân 18 nước chư hầu…). Quả là thâm thúy, sâu sắc!

Như vậy về bản chất, “chằn tinh” hay “quỷ Xương Cuồng” vẫn là yêu tinh nhưng khi được gọi là “chằn tinh” tác oai tác quái thì chắc chắn không phải hổ (chưa “hóa” thành hổ). Đến khi bị Kinh Dương Vương trấn áp, yêu mới biến hóa thành hổ (quỷ Xương Cuồng). Do vậy căn cứ vào logic hình tượng, nói “chằn tinh” tức con hổ là chưa chính xác. Thế “chằn tinh” (khi chưa hóa hổ) là con gì?

Có mấy căn cứ sau nói là con trăn.

Một, theo một số văn bản cổ tích truyện “Thạch Sanh” (văn xuôi) gọi thẳng là con “Trăn tinh”, tức con trăn thành tinh: “Bấy giờ ở trong vùng có một con Trăn tinh thường bắt người ăn thịt, quan quân nhiều lần vây đánh không được. Vì nó có phép thần thông biến hóa; nhà vua phải cho lập miếu thờ, mỗi năm nộp mạng một người cho nó”. Cách miêu tả hình tượng cũng hướng sự hình dung về con “mãng xà”: “Nửa đêm Trăn tinh hiện về, giơ vuốt, nhe răng hà hơi, nhả lửa, định xông vào miếu ăn thịt Thạch Sanh”...

Hai, một số văn bản truyện Nôm “Thạch Sanh”, hầu như đều chung chi tiết: “Bấy giờ có một con Trăn/ Sống lâu có phép thường ăn thịt người/ Triều đình giao chiến tơi bời/ Mà không giết được Trăn trời yêu tinh/ Cuối cùng Vua phải hạ mình/ Làm đền thờ cúng Trăn tinh bằng người”. Khi Thạch Sanh đến “nộp mình”, thì: “Nửa đêm có tiếng khì khì/ Trăn tinh xuất hiện đen xì trước hang/ Bỗng Trăn lao tới quấn ghì/ Há mồm phun dãi phì phì răng nanh…”. Thạch Sanh giết Trăn tinh chặt đầu mang về, thì: “Sau khi nghe em giãi bày/ Lý Thông gian xảo nghĩ ngay chuyện lừa/ Rằng Trăn là của nhà Vua/ Nay em giết chết chắc Vua lôi đình!”.

Ba, trong mỹ thuật dân gian, “chằn tinh” cũng được hiểu là “mãng xà” (tranh Đông Hồ); hình ảnh con mãng xà nhìn cặp trai làng vật nhau (điêu khắc ở đình Hạ Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội). Sau này thơ Tố Hữu cũng tả Thạch Sanh: “Lưng đàn, tay búa, tay giương nỏ/ Chém Mãng xà vương, giết đại bàng”.

Bốn, nhìn sang truyền thuyết châu Âu, có biểu tượng Basilisk là loài bò sát được coi là vua của loài rắn(tương tự như “mãng xà” trong truyện Nôm của ta) có đầu của congà trống, đầu độivương miện (như mào rắn) và thân hình của rắn... Từ hình tượng này có thể hiểu sang “chằn tinh” của ta cũng là sự “hỗn dung” của nhiều loài linh vật nhưng cơ bản vẫn mang hình tượng của loài rắn!?.

Cuối cùng, theo phép biến âm mà các học giả ở trên đã chứng minh “dần” biến thành “chằn” thì vẫn có thể có cách hiểu âm “trăn” (tinh) đã biến âm thành “chằn” (tinh).

Về “quỷ Dạ Xoa”, theo nhiều nghiên cứu, có nguồn gốc là những vị nhiên thần trong văn hóa Ấn Độ có trước Phật giáo rồi đi vào thần điện Phật giáo như là những linh vật bảo vệ Phật pháp. Quỷ Dạ Xoa đã có trong “Truyện Ngư tinh” (Lĩnh Nam chích quái): “Long Quân… hạ lệnh cho quỷ Dạ Xoa ở dưới thủy phủ cấm thần biển không được nổi sóng, rồi chèo thuyền đến bờ hang đá cá tinh, giả vờ cầm một người sắp ném vào cho nó ăn”.

Chi tiết này cho thấy “quỷ Dạ Xoa” bước rất sớm vào văn hóa Việt (đến mức xuống cả dưới biển), có quyền năng rất lớn (cấm được cả thần biển…). Là bộ hạ thân tín của Long Quân giúp dân, nên nói quỷ Dạ Xoa “giống” (tiếp biến vào) chằn tinh hung ác (mãng xà vương) là thiếu thuyết phục. Trong Kinh Phật Hán ngữ, “Yasha” (Dạ Xoa) được phiên âm “Dược-xoa” (chiến thắng bệnh tật) cũng không hề “dữ dằn”. Trong mỹ thuật và kiến trúc đền chùa Thái Lan hay chùa tháp Khmer, Dạ Xoa cũng là những thần hiền lành, đức độ canh giữ, bảo vệ…

Ngoài là con mãng xà, “chằn tinh” rất có thể còn mang bóng dáng linh vật khác? Xin mời ý kiến bạn! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).