Cảnh ngày hè - cách nay 6 thế kỷ!

Với quan niệm “thiên địa nhân hợp nhất”, trong thời trung đại phương Đông con người và thiên nhiên gần gũi, giao hòa nên thơ vịnh cảnh là một chủ đề sâu đậm được các nhà Nho tâm đắc. Ngày nay nhìn từ ký hiệu học văn hóa người ta lại thấy thơ vịnh cảnh của người xưa là dấu hiệu cảm quan sinh thái rất đáng chú ý của mối quan hệ đậm đà nhân tính giữa con người và thiên nhiên – điều mà thời đương đại đang tìm kiếm.

Từ góc độ này sẽ thấy các biểu tượng trong thơ vịnh cảnh như là cầu nối, như là sứ giả giữa con người và thiên nhiên. Luôn mang một chiều sâu văn hóa, theo thời gian biểu tượng được bồi đắp, tích luỹ thêm các lớp mã ý nghĩa mới. Là hạt giống của cây văn hóa cổ xưa gieo vào mảnh đất đương đại, nảy mầm, lớn lên cho hoa quả ý nghĩa mới, vì thế biểu tượng luôn mang tính truyền thống. Giải mã biểu tượng cũng là một cách tìm về truyền thống. Bài viết xin được tìm hiểu về thơ vịnh ngày hè trong thơ Nguyễn Trãi và thơ thời Hồng Đức.

image001.jpg -0
Hoa sen.

Thơ Nôm Nguyễn Trãi xuất hiện nhiều hình tượng cây hòe: “Rồi hóng mát thuở ngày trường/ Hòe lục đùn đùn tán rợp trương/ Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ/ Hồng liên trì đã tịn mùi hương” (Bảo kính cảnh giới 43). Cảnh ngày hè có sắc đỏ của hoa lựu bên hiên nhà, có hương vị của sen hồng dưới ao và hình ảnh cây hòe cành lá tươi tốt sum xuê cứ vươn lên trời xanh.

Ông có bài vịnh riêng về hòe: “Mống lành nẩy nẩy bởi hòe trồng/ Một phát xuân qua một phát trông/ Có thuở ngày hòe trương tán lục/ Đùn đùn bóng rợp cửa tam công” (Hòe). “Mống lành” (từ cổ) chỉ con cháu tài giỏi. Câu hai ý nói mỗi mùa xuân qua lại xem hòe lớn lên được bao nhiêu, tức rất quan tâm đến nó. Cảnh ngày hè trong thơ Ức Trai không thể thiếu hòe: “Vì ai cho cái đỗ quyên kêu/ Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu/ Lại có hòe hoa chen bóng lục/ Thức xuân một điểm não lòng nhau” (Cảnh hè).

Thơ ông có nhiều những “giấc hòe an”, “giấc hòe”, “cành hòe”… nên có đủ căn cứ để khẳng định hòe là một tín hiệu thẩm mỹ đặc biệt trong thơ Ức Trai. Hòe cũng xuất hiện nhiều trong thơ Hồng Đức: “Đằng đẵng ngày chầy giương tán nắng/ Đùn đùn bóng rợp phù màn hoè” (Vịnh cảnh mùa hè); “Rợp rợp màn hoè bóng mới xây/ Choi chói hoa vàng đưa gió/ Đun đùn tán lục gương mây” (Màn hoè); “Liễu phất tơ xanh mềm lướt lướt/ Hòe giương tán lục xếp trùng trùng” (Tháng tư)… Nhưng dễ nhận ra chịu ảnh hưởng thơ Ức Trai, từ hình ảnh đến cảm hứng, tình điệu...

Dựa trên cơ sở tần số xuất hiện có thể hình dung ngày xưa các cụ ta thường trồng nhiều cây hòe. Lá hòe xanh thẫm, tán rộng, hoa màu vàng, ngoài ý nghĩa thẩm mỹ, cây hòe cho bóng mát, hoa hòe còn là một vị thuốc quý. Cây hòe gần gũi, thân quen lại nhiều lợi ích nên đi vào thơ Nguyễn Trãi, thơ Lê Thánh Tông - những đại trí thức yêu nước, gần dân, thương dân như lẽ tự nhiên vậy. Hoa hòe nở vào mùa hạ nên vịnh mùa hè không thể thiếu biểu tượng này.

Nhưng hòe còn là một biểu tượng của chiều sâu văn hóa sâu xa nhiều triết lý. Dù yêu hòe nhưng khi tả, cụ Nguyễn Trãi vẫn “đặt” nó ở “cửa tam công” biểu tượng của vị thế vương giả, quyền lực, học vấn (Đùn đùn bóng rợp cửa tam công). “Tam công” lại là một điển tích, sách “Tống sử” kể Vương Hộ đời Tống từng tự tay trồng ba cây hòe ở sân và nói con cháu ta sẽ có người làm đến chức Tam công. Từ đó người ta lấy “sân hòe” để chỉ cha mẹ với ý biết ơn công lao phụ mẫu: “Sân hoè đôi chút thơ ngây/ Trân cam ai kẻ đỡ thay việc mình” (Truyện Kiều).

Đi vào văn hóa cây hòe biểu trưng cho việc đỗ đạt làm quan. Không chỉ Nguyễn Trãi nói nhiều đến “giấc hòe”, có trong cả “Truyện Kiều” (Giấc Nam Kha khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy thấy mình tay không). Đời nhà Đường một tác giả tên là Lý Công Tá trong sách “Nam Kha ký” kể câu chuyện Thuần Vu Phần giữa trưa hè ngủ dưới gốc hòe mơ được đến nước Hòe An, được nhà vua xứ này gả công chúa xinh đẹp, lại được phong làm Nam Kha Thái thú... Bỗng chàng ta giật mình tỉnh dậy, té ra chỉ là giấc mơ. Vu Phần chỉ biết thở than: “Giữa giấc mộng và đời thực sao cách nhau xa đến thế!”.

Điển tích này rất hay được các nhà Nho mượn để triết lý về sự chảy trôi của thời gian, đời người cũng chỉ gói gọn trong giấc mơ mà thôi. Còn là triết lý về mơ và thực. Mơ thì luôn đẹp nhưng hão huyền,… Từ đó “giấc hòe” cũng là giấc mơ: “Tiếng sen sẽ động giấc hoè/ Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần” (Truyện Kiều). Đặt vào bối cảnh thơ Ức Trai có thể hiểu ông triết lý về công danh cũng hão huyền như giấc mơ vậy (!?).

image003.jpg -1
Cành hoa hòe.

Mùa hè đến hoa sen nở. Ban ngày sen khoe sắc. Ban đêm sen tỏa hương.Ức Trai đưa cảm nhận ấy vào thơ: “Lầm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh/ Quân tử kham khuôn được thử danh/ Gió đưa hương đêm nguyệt tĩnh/ Trinh làm của có ai tranh” (Hoa sen). “Lầm” nghĩa là bùn (từ cổ). Thật khó biết Nguyễn Trãi học ca dao (Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn) hay ca dao học Nguyễn Trãi. “Kham khuôn” là bắt chước, ý câu hai nói chỉ có bậc quân tử mới bắt chước được sen. “Trinh làm của” ý nói sự trinh tiết trong trắng của sen là của báu khó ai tranh được. Bài thơ ngắn ca ngợi sen chủ yếu ở phương diện phẩm chất.

Thơ Hồng Đức cũng vịnh sen: “Đùn đùn mây họp cháu con lắm/ Ngần ngật dù che dòng dõi sang/ Ca ngợi ả Tây lừng thủy quốc/ Mặt bằng Lang sáu đượm thiên hương” (Lại vịnh sen). Tả lá sen bằng từ ngữ miêu tả vũ trụ và con người (Đùn đùn mây họp cháu con lắm). Lá sen như mây hội tụ làm chiếc dù “che dòng dõi sang”. Hai câu sau ca ngợi sen như người đẹp qua hai điển tích. “Ả Tây” tức Tây Thi, người con gái tuyệt đẹp đời Xuân Thu thường hay hái hoa sen (nên càng đẹp thêm). “Lang sáu” có từ tích Tương Xương Tông thời nhà Đường được Vũ Tắc Thiên sủng ái gọi là Lục Lang. Có người khen mặt Lục Lang đẹp như hoa sen nhưng Tắc Thiên Hoàng hậu khẳng định hoa sen đẹp như mặt Lục Lang mới đúng! Không biết cái đẹp nào là chuẩn mực thẩm mỹ cho cái đẹp nào, chỉ biết cả hai cùng rất đẹp, như lẫn vào nhau, nâng đỡ nhau.

Cả trong thơ Nguyễn Trãi và thơ Hồng Đức đều vang lên âm thanh của con cuốc cuốc và tiếng ve. Ức Trai băn khoăn với tiếng cuốc kêu: “Vì ai cho cái đỗ quyên kêu”. Đỗ quyên là tên gọi khác của con chim cuốc. Khi về ẩn ở “Côn Sơn quê cũ”, thơ Ức Trai dường như còn khắc khoải hơn với “trong tiếng cuốc kêu xuân đã muộn”. Một tiếng ve có gì đấy đượm buồn: “Lao xao chợ cá làng ngư phủ/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương”. Từ láy “lao xao” cho thấy chợ cá ở xa, khác với “dắng dỏi” nghĩa inh ỏi, ram ran ở gần. Tiếng ve như tiếng đàn cầm (cầm ve) gọi hoàng hôn về bao phủ lấy ngôi lầu im lặng. Cảnh nên thơ, trữ tình, có âm thanh nhưng chỉ là “dĩ động tả tĩnh” càng làm không gian vắng lặng.

Cùng đối tượng thẩm mỹ tiếng cuốc, tiếng ve, thơ Hồng Đức vui vẻ hơn: “Tường nọ nhặt khoan vang tiếng cuốc/ Cành kia dắng dỏi gảy cầm ve” (Vịnh cảnh mùa hè). Thơ Hồng Đức có dùng từ “khắc khoải” nhưng vẫn thấy đó chỉ là cái vỏ ngôn ngữ chứ không thấy chiều sâu của tâm trạng: “Khắc khoải đã đau lòng cái cuốc/ Băn khoăn thêm tức ngực con ve” (Nắng hè).

Chim cuốc, tiếng Hán gọi là đỗ quyên hay đỗ vũ, tử quy thường sống trong bụi rậm hoặc góc ao chuôm. Thời điểm cuối xuân đầu hạ cuốc thường cất tiếng kêu khắc khoải. Điển tích ghi ở sách “Sưu thần ký” vua nước Thục tên Đỗ Vũ tức Thục Vọng đế vì ăn chơi để mất nước nên khi chết hóa thành con chim cuốc kêu thảm thiết “cuốc, cuốc”. Đi vào văn chương điển được mở rộng nội hàm chỉ những ai phiêu bạt đất khách quê người mà nhớ về cố hương “Khúc đâu êm ái xuân tình/ Ây hồn Thục đế hay mình đỗ quyên” (Truyện Kiều). Tiếng cuốc vọng vào thơ Nguyễn Trãi mang nghĩa rộng rãi về niềm ưu tư, cảm hoài với quê hương. Âm thanh ấy càng da diết hơn những khi nhà thơ sống trong tâm trạng “bất đắc chí”.

Thơ Hồng Đức rất chú ý tới cách dùng tính từ cực tả và nhấn mạnh vào từ láy, phép điệp: “Nước nồng sừng sực đầu rô trỗi/ Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè/ Cuốc cuốc, cuốc hằng khua mõ cuốc/ Ve ve, ve lại gẩy cầm ve” (Lại vịnh nắng hè 3). Hình tượng có hồn nhờ khai thác những hình ảnh mang tính đặc trưng riêng biệt, ngộ nghĩnh, sống động, thi vị: “Bẻo lẻo đầu ghềnh con bố cốc/ Lênh đênh mặt nước cái đè he” (Nắng hè). “Bố cốc” tức chim tu hú thường kêu vào đầu hè để nhắc người dân cấy lúa (bố cốc). “Cái đè he” tức cá he mình to, dài, đầu giống đầu lợn, sống ở biển, mùa hè thường nổi từng đàn…!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).