Cánh buồm căng bát ngát tự do

Trong trường ca Điệp khúc vô danh của nhà thơ Anh Ngọc, tôi rất thích chương "Buồm nâu biển biếc" viết về hải đảo Tổ quốc. Mấy mươi năm rồi (tác phẩm xuất bản năm 1983) mà cảm xúc và thi ảnh vẫn còn dạt dào tươi mới; khúc thơ như cánh buồm nâu vừa rời bến quê tìm ra biển biếc mênh mông.

Cánh buồm căng bát ngát tự do -0
Nhà thơ Anh Ngọc.

"Một nửa nhân dân tôi theo mẹ đã lên rừng
Một nửa khác theo cha xuống biển

Tôi là cánh buồm nâu cứ mỗi ngày tách bến
Lòng bâng khuâng đâu dưới biển trên ngàn
Cái gạch nối mong manh nối biển với đất liền
Lòng thương nhớ để tôi pha màu đất
Tôi tha thiết nối trời với nước
Nên tạo hình những cánh én, cánh dơi

Những cánh buồm đi trong nắng mai
Sóng thân mật vỗ mạn thuyền róc rách
Những cánh buồm đi dưới trăng thanh
Đi lặng lẽ trong sương mờ cổ tích
Buồm như thể chiếc lưỡi cày lật ngược
Vạch ngang trời những luống trăng sao

Và gió
Gió lồng
Không biết gió từ đâu
Thổi phồng căng lồng ngực tôi rất trẻ
Những cánh buồm tìm gì nơi góc bể
Mà trọn đời thấp thoáng phía chân mây

Hạnh phúc xa vời ở cuối những tầm tay
Tôi là nỗi khát khao không mệt mỏi
Tôi biết cách ngược chiều con gió thổi
Gió nồm nam, tôi chỉ một con đường

Buồm ơi buồm, ngươi có thực hay chăng
Để con sóng ngổn ngang lời tâm sự
Để mỗi sáng, mỗi chiều như nỗi nhớ
Tự chân trời Tổ quốc lại hiện lên

Biển sẽ ra sao nếu thiếu một cánh buồm
Mặt trời nào soi thấu lòng biển tối
Những cánh buồm như cánh cò lặn lội
Cứ lặng thầm đo hết mọi chiều sâu

Tôi thắp lên một ngọn lửa màu nâu
Ở giữa khoảng xanh trời xanh nước
Những trận bão cũng không làm tắt được
Ngọn lửa bình yên ấm áp tình người

Tôi đi qua sóng gió của đời tôi
Để đến gặp tấm lòng biển rộng
Biển giản dị và chuyên cần nuôi sống
Không thiếu ai, không sót một người nào

Bảy sắc cầu vồng đã lùi lại đàng sau
Chỉ còn tôi giữa bộn bề biển cả
Và trên đầu lũ mây bông trắng xóa
Như đàn cừu mê mải giữa đồng xanh

Hạnh phúc lớn lao ở cuối mỗi hành trình
Từng ngọn gió cũng ùa lên cập bến
Dân tộc tôi khi tìm về với biển
Gặp cánh buồm căng bát ngát tự do…".

Hình ảnh trung tâm của đoạn thơ là cánh buồm nâu. "Cánh buồm nâu cứ mỗi ngày tách bến" ấy chính là tôi, một công dân Đất Việt, hậu duệ mấy nghìn năm sau của những người con của Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ sinh ra từ trong bọc trứng. Rung động lịch sử ấy lại thêm một lần được nhắc tới: "Một nửa nhân dân tôi theo mẹ đã lên rừng/ Một nửa khác theo cha xuống biển". Chưa có phát hiện nào mới mẻ nhưng đó chính là cái bến để "cánh buồm nâu" xuất phát ra dài rộng biển trời. Cái bến ấy chính là cội nguồn, gốc gác chung của tất thảy mọi người con Đất Việt với tâm thức thiêng liêng bền vững muôn đời: chúng ta là con Rồng cháu Tiên.

Cánh buồm căng bát ngát tự do -0
Bìa trường ca “Điệp khúc vô danh” của nhà thơ Anh Ngọc.

 Gắn liền "cánh buồm nâu" như "Cái gạch nối mong manh nối biển với đất liền" là hình ảnh Tổ quốc thân thương với những màu đất, cánh én, cánh dơi, với nắng mai và "Sóng thân mật vỗ mạn thuyền róc rách". Hình tượng Đất nước và Nhân dân chợt trở nên cao rộng huyền ảo trong hải trình của cánh buồm trên biển lớn: "Những cánh buồm đi dưới trăng thanh/ Đi lặng lẽ trong sương mờ cổ tích/ Buồm như thể chiếc lưỡi cày lật ngược/ Vạch ngang trời những luống trăng sao". Ngọn buồm trong con mắt nhà thơ là "chiếc lười cày lật ngược" vạch lên cánh đồng vũ trụ "những luống trăng sao". Sự liên tưởng kỳ vĩ ấy gợi nhắc đến công việc quen thuộc bao đời của nông dân Việt Nam, những người đã dựng nên nền văn minh lúa nước trên dải đất cong cong hình chữ S này với bao thăng trầm vất vả không kể xiết cùng những khao khát ước mơ bay bổng mênh mang.

Không dừng lại ở đó, không bằng lòng với những gì đã có, Đất nước ấy đã, đang và sẽ vươn ra biển lớn với bản lĩnh và ước mơ mang tên Việt Nam: "Hạnh phúc xa vời ở cuối những tầm tay/ Tôi là nỗi khát khao không mệt mỏi/ Tôi biết cách ngược chiều cơn gió thổi/ Gió nồm nam tôi chỉ một con đường". Ra biển là sẵn sàng chấp nhận những thử thách hiểm nguy mới, nghiệt ngã hơn, to lớn hơn ở đất liền, đòi hỏi dân tộc ta phải "biết  cách ngược chiều cơn gió thổi" để đi đúng con đường đã chọn. Trong hành trình thăm thẳm đi về phía mặt trời lên, Tổ quốc đồng nghĩa, đồng hành với tình yêu và khát vọng của ta: "Để mỗi sáng, mỗi chiều như nỗi nhớ/ Tự chân trời Tổ quốc lại hiện lên".

Đó chính là những điều cao cả được nói lên bằng tình yêu Đất nước và trách nhiệm công dân và không chỉ dừng ở đấy, trong đoạn trích trường ca còn có một mạch thơ khác được triển khai như những tâm tình thế sự. Lời tâm sự ngổn ngang của những con sóng với cánh buồm nâu hay là những suy tư của tác giả về cuộc sống.

Hãy nghe những thầm thì suy tư sâu lắng trong những ẩn dụ thi ca: "Biển sẽ ra sao nếu thiếu một cánh buồm/ Mặt trời nào soi thấu lòng biển tối/ Những cánh buồm như cánh cò lặn lội/ Cứ lặng thầm đo hết mọi chiều sâu…/ Những trận bão cũng không làm tắt được/ Ngọn lửa bình yên ấm áp tình người/ Tôi đi qua sóng gió của đời tôi/ Để đến gặp tấm lòng biển rộng…".

Rõ ràng ta đã bắt gặp ở đây những hé mở thuộc về con người bản thể với những trải nghiệm và lãng mạn, hoài nghi và tin cậy, khát khao và hy vọng. Và, tấm lòng biển bao la đã được nói cụ thể hơn sau những câu thơ mang tính khái quát cao: "Biển giản dị và chuyên cần nuôi sống/ Không thiếu ai, không sót một người nào…".

Cuối cùng, lại trở về với cái lớn lao của Đất nước, của Dân tộc, của Nhân dân. Hành trình nào thì cũng mong muốn gặt hái được hạnh phúc. Cái hạnh phúc lớn nhất của một dân tộc, một con người, không gì khác chính là tự do. Tự do như từng ngọn gió, tự do như cánh buồm lộng căng giữa biển cả bao la: "Hạnh phúc lớn lao ở cuối mỗi hành trình/ Từng ngọn gió cũng ùa lên cập bến/ Dân tộc tôi khi tìm về với biển/ Gặp cánh buồm căng bát ngát tự do…".

Có vẻ như nhà thơ Anh Ngọc đã có những phút thăng hoa bừng sáng khi viết đoạn thơ này; dòng suy tư tuôn chảy cùng mạch cảm xúc mạnh mẽ lẫn vào trong mỗi chi tiết đời sống, trong từng thi ảnh, trên nhịp điệu (chất nhạc) cổ điển để cánh buồm được triển khai ra tất cả mọi phía, đủ bát ngát mênh mông từ nối đất liền với biển cả, nối bầu trời với mặt nước, nối cái nhìn được và cái không thể thấy bằng mắt, nối hiện tại với quá khứ, nối đương đại với lịch sử, nối hiện thực với ước mơ, nối hy vọng với phấn đấu…

Vâng, cánh buồm căng gió đã trở thành biểu tượng của tự do. Hình ảnh ấy đã lưu giữ trong tôi rất nét sau khi đọc chương "Buồm nâu biển biếc" trong trường ca "Điệp khúc vô danh" của nhà thơ Anh Ngọc.

Thanh Khê

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.