Cảm thức thời gian trong thơ Dương Kỳ Anh

Thời gian trong thơ Dương Kỳ Anh ít nói tới tương lai mà nghiêng về hoài niệm quá khứ. Ngay cả khi viết thời gian hiện tại, ông vẫn luyến tiếc về những gì tươi đẹp nhất.

Nhà thơ Dương Kỳ Anh đã trình làng 5 tập thơ rưỡi. Gọi như thế vì tác phẩm thứ sáu Minh triết (NXB Hội Nhà văn, 2019), gồm hai phần: một nửa văn, một nửa thơ. Trừ thi tập thứ tư “Thơ Dương Kỳ Anh” (NXB Kim Đồng, 2005) được tuyển chọn từ ba tập thơ trước, các tập thơ còn lại đều in đậm dấu ấn thời gian: “Và anh đợi” (NXB Lao động, 1987), “Đi qua thời gian” (NXB Hội Nhà văn, 1982), “Miền ký ức” (NXB Quân đội nhân dân, 2001), “Thong thả” (NXB Hội Nhà văn, 2016). Tên các tập thơ đã minh định điều đó. Số lượng tiêu đề các bài thơ và câu thơ trong một bài thơ càng khẳng định thêm nhận định ấy.

Nhưng thời gian trong thơ Dương Kỳ Anh ít nói tới tương lai mà nghiêng về hoài niệm quá khứ. Ngay cả khi viết thời gian hiện tại, ông vẫn luyến tiếc về những gì tươi đẹp nhất. Một năm mở đầu bằng mùa xuân, mùa xuân mở đầu bằng tháng giêng. Trước sự thay da đổi thịt của đất trời, lòng thi nhân vẫn bâng khuâng tiếc nuối: "Tháng giêng mắt ướt tóc dài/ Cỏ non xanh rợn chân trời hư không/ Ngõ buông một sợi tơ hồng/ Anh buông chiều biếc vẫn không gặp mình" (Tháng giêng). Dẫu rằng, người thơ vẫn luôn cố gắng làm mới tâm hồn mình, luôn giữ được niềm tin hy vọng cuộc sống tương lai sẽ đẹp hơn: "Thời gian rũ áo không quay lại/ Bảng lảng nghìn năm sương khói ơi/ Đất trời như thực như mơ ấy/ Xin một cành non hái với đời… Được sống ngàn năm, anh vẫn trẻ/ Vẫn say sắc lạ, với hương đời/ Mùa xuân rũ áo không quay lại/ Bảng lảng nghìn năm, sương khói ơi" (Ngẫu hứng ngày Tết).

nhà thơ dương kỳ anh.jpg -0
Tranh chân dung nhà thơ Dương Kỳ Anh.

Trong cuộc sống với bao bộn bề công việc, niềm tin tưởng hy vọng ấy vẫn không giảm, trái lại càng bền vững hơn, càng mạnh mẽ hơn: "Thế sự ngày ngày chen cột báo/ Bao nhiêu biến đổi với xoay vần/ Riêng anh lòng vẫn như thơ ấy/ Khao khát đợi chờ trong gió xuân" (Trong gió xuân). Trước “thời gian ngọn gió vèo qua”, thi nhân luôn trăn trở về sự “được - mất”, “mất - còn” của đời người. Hãy lắng nghe những suy ngẫm về “một ngày”, đơn vị chính yếu của thời gian: "Một ngày không nắng, không mưa/ Bão giông lắng ở nơi vừa bão giông/ Một ngày, sắc sắc, không không/ Mõ chùa không đánh, chuông lòng không ngân/ Một ngày, rêu mọc ngoài sân/ Ngựa xe thuở trước bụi trần hôm nay/ Một ngày, rượu uống chưa say/ Lời chưa nói, gió đã bay mất lời/ Một ngày tôi gặp…mình tôi" (Một ngày). Chính bởi cảm nhận sâu sắc về sự “mất - còn” như chớp mắt của đời người như vậy, người thơ luôn nâng niu những ký ức, những kỷ niệm đẹp nhất cuộc sống đã dâng tặng mình: "Đôi khi chợt nhớ một miền ký ức xa xôi/ Thời gian như bông hồng đỏ thắm/ Cứa vào ta ký ức tuyệt vời/ Dù đến đâu của sự im lặng/ Tận cùng của sự kiên nhẫn/ Cũng không thể nào có được điều ta mong/ Khát khao vò nát bông hồng/ Thời gian chỉ còn gai sắc/ Ta nuôi dưỡng tình yêu bằng ảo giác" (Miền ký ức).

Người thơ tin vào sự vĩnh cửu luôn tươi mới của thời gian, vào tương lai của lớp hậu sinh kế tiếp mình: "Ai bảo thời gian/ Không quay trở lại/ Mình gặp tuổi mình/ Khi mùa xuân tới/ Trong các con ta/ Ta còn trẻ mãi/ Thời gian chậm rãi/ Sao ta vội vàng" (Thời gian). Do điều kiện công tác, thi nhân được đi đến nhiều nơi trên thế giới và trong nước. Đến đâu cũng ghi lại cảm xúc của mình trước những danh thắng, di tích lịch sử. Và cảm xúc sâu đậm nhất vẫn là cảm xúc thời gian, về những vui buồn nhân thế, những bài học lịch sử nghìn năm vẫn còn tươi rói, nóng hổi tính thời sự hôm nay: "Máu, nước mắt, tiếng hổ gầm và tiếng kêu than của người nô lệ/ Thời gian đã rêu phong những tiếng thét gào/ Tôi chỉ thấy du khách nói cười trên khổ đau của nghìn năm trước/ Những khổ đau bây giờ, người đời bây giờ nghĩ sao?!" (Ghi ở đấu trường La Mã).

Cảm xúc ấy được lật đi lật lại trong các thi phẩm tiếp theo: “Trên Vạn Lý Trường Thành”, “Tượng người đàn bà ngoại tình ở Luc - xăm - bua”, “Ghi ở Hòn Chồng” hay “Trước lăng Khải Định”: "Ở đây bùn đất lên ngôi/ Mảnh sành mảnh chĩnh cùng ngồi với vua… Đâu hồn thơ của người xưa/ Tài hoa một nét, bây giờ còn đây… Nghe trong hương khói phơi bày/ Thời gian như thể tháng ngày phôi pha/ Đời người như ngọn gió qua/ Bao triều vua cũng chỉ là hư không", mà tôi đã lạm bình như sau: “Nếu ai đã có duyên nợ ít nhiều với thi ca khi đặt chân đến Huế không sáng tác một câu thơ, một bài thơ, một chùm thơ về xứ sở đáng yêu này? May mắn và tài hoa, các bài thơ đó được trường tồn cùng với thời gian như "Đẹp và thơ" của Nam Trân, "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, "Giời mưa ở Huế" của Nguyễn Bính, và chí ít cũng trở nên báu vật của một người. Bài thơ "Trước lăng Khải Định" của Dương Kỳ Anh không phải ngoại lệ.

Hai câu mở đầu hơi lạ. Nhân dân ta thường nói: "được thời võng lọng cân đai/ hết thời mảnh chĩnh vứt ngoài bụi tre". Nhưng ở đây mảnh chĩnh được ngồi ngang hàng với vua chúa, bùn đất được lên ngôi hoàng đế, một cảnh tượng chưa thấy ở đâu - bao giờ. Trong bài "Khoảng tĩnh không trong thơ" (Báo Văn nghệ trẻ, số ra ngày 25/3/2001), nhà thơ Phạm Tiến Duật đã có nhận xét tinh tế: "Dòng thứ hai rất thú vị, vừa tả được cái tài khéo phù điêu rồng phượng của nghệ nhân vừa sướng khoái trong sự bá vai vua của người chân đất".

Riêng tôi, tôi hình dung rằng sau khi viết xong hai câu thơ mở đầu, nhà thơ Dương Kỳ Anh không thể không nhếch mép cười. Nhưng rồi anh lại trở về với cái tính nghiêm trang của mình: "Đâu hồn thơ của người xưa/ Tài hoa một nét, bây giờ còn đây". Thì ra như vậy! Ở cái xứ được mệnh danh đẹp và thơ này, có cái không mang hồn thi sĩ: một dòng Hương chảy lững lờ, một hòn núi Ngự thông reo, một tà áo tím tung bay… Và cả ở đây, trên cái kiến trúc nặng phương Tây nhẹ phương Đông này, người nghệ nhân dân gian tài hoa cũng kịp gửi tâm hồn thi sĩ của mình trên những nét phù điêu rồng phượng. Họ đã kịp làm được cái xưa kia Vũ Như Tô không làm được khi xây Cửu Trùng Đài.

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng nhận xét: "Triều đại Nhà Nguyễn là triều đại để lại rất nhiều lăng". Trong cái không được kia cũng có cái được. Ấy là các kiến trúc này đã ghi lại dấu ấn lịch sử - văn hóa của dân tộc ta trong một thời đại đau thương đáng ghi nhớ. Biết làm sao tránh được các quy luật của tạo hóa: thịnh - suy, tròn - khuyết, còn - mất… tất cả, tất cả sẽ bị chôn vùi dưới tro bụi thời gian. Và đời người mới ngắn ngủi làm sao: "Đời người như ngọn gió qua". Lại thêm một cách ví von thú vị.

Người xưa từng nói: đời người như chớp mắt, như chiêm bao, như vó câu qua cửa sổ… Nhà thơ lại ví: "Đời người như ngọn gió qua" vừa nhanh vừa nhẹ như lông hồng. Bởi tất cả sẽ trở thành hư vô, cát bụi: "Bao triều vua cũng chỉ là hư không". Hơn một lần anh từng nói đến điều này khi đứng trên Vạn Lý Trường Thành: "Mọi bạo chúa, cường quyền rồi sẽ chết/ Mọi tấn trò đời khép lại phía sau". Nhưng tôi tin anh không phải là người yếm thế, phủ nhận tất cả. Anh hiểu sâu sắc rằng: "Chỉ có tình yêu song hành cùng trái đất/ Triệu năm rồi và triệu năm sau". Tình yêu luôn là nguồn sữa nuôi dưỡng mọi cảm hứng sáng tạo, mọi tài hoa.

Kết thúc bài thơ có một chút phảng phất buồn, nhưng nếu để hồn ta lắng lại, ta vẫn được an ủi rất nhiều. Bởi: "Trước lăng Khải Định" - lăng của một vua bù nhìn và thuần phục mẫu quốc một trăm phần trăm này (cả khi còn sống và sau khi đã chết!) - ta vẫn còn được chiêm ngưỡng "tài hoa một nét". Dẫu một nét thôi, nhưng nó sẽ trường tồn vĩnh cửu với thời gian như chính văn hóa xứ Huế vậy”.

Trong bài viết “Câu thơ nối được hồn ta hồn người” (Báo Văn nghệ Công an, 6/4/2018), nhà thơ Dương Kỳ Anh chia sẻ: “Cố nhà thơ Trinh Đường một người sống chết vì thơ, nhiều năm biên tập thơ ở Báo Văn nghệ trước đây, rất công tâm và tinh tế, sinh thời chúng tôi mời ông chấm thơ vòng chung khảo cho cuộc thi Tác phẩm tuổi xanh và Tầm nhìn thế kỷ. Có lần ông bảo tôi: Thơ Dương Kỳ Anh và Lê Quốc Hán đều có nét riêng: Dương Kỳ Anh là cảm thức về thời gian, là nhành mai vàng thời gian, còn Lê Quốc Hán là cảm thức về tâm linh và vũ trụ”.

Thu 2019, khi cả hai bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy”, tôi lên chơi “biệt phủ” của Dương huynh trên Sóc Sơn. Sau khi đưa khách đi khắp khu trang trại với cơ man hoa quý và cây ăn quả, chúng tôi ngồi im lặng bên nhau ngẫm nghĩ về bài học “cái đẹp cứu rỗi thế giới”. Sự im lặng anh học được qua bảy mươi năm sống và chiêm nghiệm trong những câu thơ tuyệt đẹp của mình: "Bây giờ tôi biết lặng im/ Như con sông chảy im lìm ngoài kia/ Lặng im khi buổi chiều về/ Phù sa lắng đọng bộn bề tâm tư/ Tôi nào đâu dám thờ ơ/ Trước bao la những bến bờ con sông/ Lặng im cây lúa làm đòng/ Lặng im đến với mênh mông mùa vàng/ Một đời lặng lẽ nuôi con/ Lặng im vạt áo nâu sồng mẹ tôi/ Bao nhiêu năm học nói, cười/ Hôm nay tôi học được lời lặng im" (Lặng im).

Lê Quốc Hán

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).