Cái đẹp – cắt nghĩa, lý giải

Sắp bước vào thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0 nhưng nhân loại vẫn cúi đầu trước cái đẹp chuẩn mực của tượng thần Vệ Nữ ra đời trước đó hàng nghìn năm (khoảng năm 130 trước Công nguyên). Bao nhà mỹ học nổi tiếng băn khoăn đưa ra câu hỏi: người xưa căn cứ vào đâu để có những tỷ lệ về cái đẹp lý tưởng như vậy?

Còn nhiều những câu hỏi mang tính thách đố tương tự: cách nay gần năm nghìn năm ai có thể xây Kim Tự Tháp với những con số chính xác gần như tuyệt đối như thế?

Theo thần thoại La Mã thì Vệ Nữ là vị thần của Sắc đẹp và Tình yêu. Hiện tại bức tượng thần Vệ Nữ được đặt tại bảo tàng Luvrơ (Pháp) nhưng ánh sáng của thần thì toả rạng khắp nhân gian ca ngợi, tôn vinh cái đẹp và tình yêu của con người.

Cho đến nay biết bao hoạ sỹ và thi nhân, bao nhạc sỹ và điêu khắc gia… lấy cảm hứng từ thần Vệ Nữ, một kiệt tác vĩnh cửu về sự quyến rũ mê hoặc, về sức sống tươi trẻ, về tỷ lệ khuôn thước… để sáng tạo những tuyệt phẩm khẳng định hình thể và tâm hồn con người mãi là trung tâm của vũ trụ.

Tượng thần Vệ Nữ.
Tượng thần Vệ Nữ.

Truyền thuyết kể rằng thần Vệ Nữ sinh ra từ máu và sóng biển. Sự xung khắc giữa hai cha con thần Uranôx dẫn đến đổ máu. Những giọt máu từ trên ngọn núi Ôlanhpơ - thế giới của các vị thần, rơi xuống biển hoà vào bao lớp sóng kết vào nhau làm thành những viên ngọc long lanh, từ những viên ngọc đó hiện ra một tuyệt thế giai nhân. Thì ra người xưa đã triết lý sâu xa về cái đẹp. Cái đẹp thật quý, quý như máu vậy. Và cũng rất có thể cái đẹp là nguyên nhân gây ra sự đổ máu, ngay cả với những người thân thiết.

Cái đẹp cũng thật mong manh. Mong manh như sóng biển vậy. Cái đẹp được hình thành từ sự lan toả và kết nối (như sóng biển luôn lan toả và kết nối). Đến lượt cái đẹp cũng phải như sóng biển lan rộng, nhân lên cái đẹp cùng đi vào mọi trái tim, mọi tâm hồn.

Với cái nhìn duy lý và tư duy phân tích nhận định luôn phải được định lượng hoá bằng con số, người phương Tây sau này dựa trên tỷ lệ của tượng thần Vệ Nữ (và nhiều tượng khác) mà đưa ra các thông số về sự vật được gọi là đẹp. Pitago cho rằng một bản nhạc hay là quãng tám (1/8), quãng bốn (3/4), quãng năm (2/3). Ông chỉ ra âm nhạc phải phản ánh tính hài hoà của các thiên thể trong vũ trụ. Đến thời Phục Hưng, các nhà hội hoạ cho thấy "tỷ lệ vàng" trong tương quan tỷ lệ của hai cạnh trong các hình chữ nhật là 1/1,618. Các chỉ số vàng cho các hình dạng như cơ thể người, ngôi nhà… là 3/5, 5/8, 8/13…

Với phương Đông thì quan niệm về cái đẹp lại rất ước lệ, chung chung. So với các triết học khác thì Đạo gia bàn nhiều về cái đẹp hơn cả nhưng cũng không hề cụ thể. Trong "Nam hoa kinh", Trang Tử nói, đại loại như "Tự nhiên chi mỹ, thiên địa chi mỹ" (Tự nhiên là đẹp, trời đất là đẹp); "Vô hạn chi mỹ" (Cái đẹp không giới hạn); "Vô vi tự mỹ" (Cái đẹp không vụ lợi)…

Cho đến các giai thoại về cái đẹp càng khó hình dung cụ thể với các câu ví như "đẹp như Tây Thi", hay đẹp "chim sa cá lặn". Truyền thuyết kể Tây Thi ở thôn Tây núi Trữ La, gia đình thuộc họ Thi nên gọi Tây Thi (cũng không có tên riêng cụ thể). Làm nghề dệt vải nên hàng ngày Tây Thi đem lụa giặt ở bến sông. Nàng soi thân xuống nước để tự thưởng thức cái đẹp của mình. Không ngờ chim bay trên trời nhìn xuống nước thấy sắc đẹp của nàng mà sa xuống, cá dưới nước thấy bóng nàng là lặn mất tăm… Thì ra cái đẹp của con người có thể hấp dẫn, hàng phục được cả tự nhiên!

Về sau nhiều nhà mỹ học phương Đông thừa nhận Tây Thi đẹp nhất, đẹp hơn cả mỹ nhân "nhất cố khuynh nhân thành/ Tái cố khuynh nhân quốc" vì dù người đẹp ấy có quay lại nhìn làm đổ thành người, quay lại nhìn lần nữa làm nghiêng nước người, thì thành hay nước người cũng là do con người làm ra mà thôi.

Nhưng cái đẹp của Tây Thi còn làm nghiêng đổ cả lịch sử. Chuyện là Câu Tiễn vua nước Việt thua trận nên bị Ngô vương là Phù Sai bắt làm tù binh chăn ngựa. Câu Tiễn chịu "nằm gai nếm mật", thậm chí nếm cả phân của Ngô vương để chờ cơ hội. Được trả tự do, Câu Tiễn về nước liền chọn Tây Thi cống sang nước Ngô làm kế báo thù. Quả nhiên Phù Sai mê mệt Tây Thi để rồi nghe lời của một "điệp viên siêu hạng" ăn chơi vung vãi, giết những người tài, làm theo kẻ nịnh…

Chẳng mấy năm mà chính sự rệu rã. Câu Tiễn cất quân, hiển nhiên nước Ngô tan vỡ. Phù Sai phải tự vẫn. Còn Tây Thi thì có hai giả thuyết, phái duy mỹ thì thấy để Tây Thi đẹp thế mà chết thì quá phí nên bịa ra chuyện vì trước đó đã yêu Phạm Lãi là cận thần của Câu Tiễn nên sau khi Ngô vương chết hai người bèn xuống thuyền đi về Ngũ Hồ nơi có cảnh đẹp nổi tiếng để tiếp tục yêu nhau. Nhưng phái ghen ghét phụ nữ đẹp thì thêm thắt rằng chính vợ Câu Tiễn sợ Câu Tiễn lại say đắm Tây Thi như Ngô vương nên sai người giết quách bằng cách dìm nàng xuống sông cho mất tích đi!

Theo quan niệm từ truyền thuyết này thì cái đẹp là nguyên nhân mất nước. Có thể điều ấy chỉ đúng một phần nhưng chắc chắn từ câu chuyện ấy mà binh pháp phương Đông khái quát thành một kế sách bất hủ có tên "Mỹ nhân kế". Còn trong lịch sử tình báo thế giới thì Tây Thi là một điệp báo viên điển hình cho việc "leo cao chui sâu" để phá hoại, kết hợp "phá từ trong ra" với "đánh từ ngoài vào"…

Như vậy phương Đông nhìn nhận cái đẹp mơ hồ, không cụ thể nhưng lại thực dụng hơn phương Tây. Tuy có điểm chung đều coi phụ nữ là biểu tượng cho cái đẹp nhưng quan niệm và ứng xử thì vẫn khác hẳn nhau. Như việc đàn ông phương Tây quỳ trước người vợ tương lai để cầu hôn vì họ coi không phải quỳ lạy vợ mà là tôn vinh cái đẹp. Với cánh mày râu phương Đông bảo thủ và gia trưởng thì hành vi đó lại bị coi là sự sỉ nhục. Thậm chí ngày cưới cũng là ngày người chồng phải thể hiện uy quyền để người vợ phải sợ và nghe lời suốt cả đời!

Hình tượng cô Tấm nền nã chân quê trong một bức họa.
Hình tượng cô Tấm nền nã chân quê trong một bức họa.

Đến tận bây giờ đàn ông phương Tây vẫn tôn trọng phụ nữ hơn. Nên ta thấy đang có trào lưu phụ nữ phương Đông kết hôn với trai phương Tây! Điều này làm đàn ông phương Đông giật mình và nghiêm túc nhìn nhận kẻo hối chẳng kịp!

Với người Việt duy tình sống giữa thiên nhiên cây trái nhưng khí hậu khắc nghiệt nhiều bão lắm mưa… nên có một quan niệm về cái đẹp là sự hài hoà rất rõ. Các cụ ta dạy "Có nam có nữ mới nên xuân". Đây không chỉ là chuyện nam nữ trai gái đơn thuần mà phổ quát hơn là chuyện quan hệ trong xã hội, trong gia đình. "Xuân" là đẹp thì cái đẹp đó phải hài hoà nam nữ, có âm có dương, có yểu điệu thục nữ có mạnh mẽ quân tử...

Bây giờ vẫn quan niệm (xưa cũ) thế, một nhà hạnh phúc là có trai có gái chứ không "một bề"… Ngôi nhà người Việt là tiêu biểu cho sự hài hoà. "Nhà cao cửa rộng" không chỉ là khao khát ước mơ mà là thực tế, cao rộng để đón nhiều gió, nhiều ánh sáng tránh cái nóng, cái nực, cái oi. Nhà ba gian hoặc năm gian thì gian giữa để thờ tự tổ tiên và tiếp khách.

"Lấy vợ đàn bà làm nhà hướng nam" không là hiển nhiên mà rất có lý. Vợ phải là "đàn bà" tức phải đẹp, khoẻ mạnh, cần cù, chăm chỉ, biết nghe lời, có "công, dung, ngôn, hạnh"… Nhà hướng Nam mát mẻ, tránh cái nắng từ hướng Đông hướng Tây và tránh gió Bắc.

Đáng chú ý nhất là người Việt có quan niệm hài hoà giữa bộ phận và tổng thể: "Người xinh cái gót cũng xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn". Không chỉ hài hoà cơ thể mà còn hài hoà tổng thể môi sinh, người đẹp thì đứng ở đâu cũng đẹp, đầu đường, bờ ao đều đẹp…

Một ý nghĩa truyện "Tấm Cám" là nói về điều này. Cô Tấm xinh nên cái hài của cô cũng đặc biệt, đến nỗi vua cũng mê vì vua đoan chắc cái hài (bộ phận) đẹp thế thì người (tổng thể/hệ thống) cũng phải đẹp. Thế là vua bắt mọi người ướm thử.

Dĩ nhiên chỉ có Tấm là vừa. Tấm được làm vợ vua. Ở đây ngoài quan niệm "ở hiền gặp lành" còn là quan niệm về giá trị và quyền lợi của cái đẹp: cô Tấm đẹp như tiên thì xứng đáng làm Hoàng hậu! Cũng là quan niệm về sự hài hoà: Cái đẹp (như cô Tấm) tương xứng với cái giàu có, sang trọng, vương giả, quyền lực (vua).

Ngoài ý nghĩa giáo huấn đạo lý còn là răn dạy về ứng xử mỹ học: Con người phải biết tạo ra cái đẹp và tôn trọng cái đẹp!

Xưa cũng như nay, ở đâu cũng thế cái đẹp đều rất được đề cao, yêu quý. Hoàn toàn dễ hiểu vì cái đẹp thuộc về con người, thể hiện tính người rõ nhất, ở chỗ ai cũng khao khát vươn lên sáng tạo, chinh phục và sở hữu cái đẹp!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).