Cái cổng - mở ra mọi thế giới!

Ngày xưa ở quê, ai cũng gắn bó với cái cổng làng, thậm chí thân quen hơn các biểu tượng cây đa, bến nước, sân đình - vốn được coi là linh hồn của làng xã Việt. Ngày nay đi đến bất cứ không gian nào, kể cả trên thế giới cũng đều phải đi qua cái cổng nào đó, dù chỉ mang tính biểu trưng.

Được hiểu là sự vật xây bằng gạch đá hoặc làm bằng gỗ, kim loại, thậm chí chỉ là hai cái cột gỗ nhỏ hoặc hai bụi cây… ngăn cách hai không gian trong, ngoài. Tên tiếng Anh (gate) có gốc từ tiếng Na Uy cổ (gat) để chỉ lối đi là một ô trống trong bức tường hoặc hàng rào. Nghĩa ban đầu của nó cũng đa dạng, là sự ngăn chặn, kiểm soát việc ra vào, hoặc đơn giản là để trang trí.

image001.jpg -0
Cổng tam quan Đền Hùng.

Người Việt ta có thành ngữ: "Phòng người ngay, không phòng kẻ gian" có lẽ xuất phát từ hình tượng cái cổng này. Ngày xưa ở làng quê, có nhà là có cổng nhưng đại đa số chỉ mang tính ước lệ, khi khép "cánh" hoặc một ngọn rào "rấp ngõ" chỉ là để thông báo với "người ngay" là chủ đi vắng, chứ không "ý nghĩa" gì với kẻ gian… Ngày nay nhiều địa phương/ quốc gia có những cái cổng thật hoành tráng thực chất cũng chỉ mang tính biểu tượng… Nhưng bước vào bất kỳ một không gian nào (vật lý, tâm linh) cũng phải qua cổng, kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vào một cơ quan phải qua "cổng", vào một làng phải qua cổng, rồi muốn "lên trời" phải qua "cổng trời", muốn "thăm" âm phủ phải qua cổng địa ngục… Lại muốn tìm hiểu thông tin phải qua "cổng thông tin"… Thật muôn hình vạn trạng.

Xin phép bàn góp trước về cổng làng Việt

Cấu trúc mô hình làng Việt thường theo lối "ngoài hào trong lũy" tức ngoài cùng là hào nước bên trong là lũy tre. Làng luôn có hai cổng, cổng chính thường ở phía đông và phụ (cổng hậu) thường ở phía tây. Con đường chính của làng nối cổng trước đến cổng sau. Ngày xưa trộm cướp nhiều nên cổng được xây kiên cố, thường bằng gạch. Làng nghèo thì xây cổng một cửa. Làng khá giả xây cổng "tam quan" (ba cửa) cấu trúc theo thuyết tam tài của triết học phương Đông cổ.

Cổng có ba lối đi, lối chính ở giữa chỉ mở khi có lễ lạt và đón quan, hai lối ngách để đi lại hàng ngày. Là ranh giới ước lệ nhưng thể hiện quyền uy của làng nên khách lạ qua cổng phải "hạ mã" (xuống ngựa/xe). Là một biểu tượng văn hóa nói lên phong tục, tập quán cùng khát khao ước vọng nên tuy chung mô hình nhưng cổng mỗi làng được điêu khắc, trình bày khác nhau.

Tên làng thường được đắp nổi trên trán cổng. Những câu đối, hoành phi được viết ở hai bên cổng không chỉ truyền đạt thông tin ngắn gọn (về làng), còn là lời giáo huấn, nhắn nhủ những ai đi xa luôn nhớ về nguồn cội mà làm vẻ vang cho dòng họ, quê hương. Cổng trước thường ở phía Đông đón gió đón nắng, đón sự may mắn, còn là đón quan trên, đón khách tứ phương đón người đi thi đỗ đạt, đón người làng đi làm về… Cổng sau để "đưa", đưa người chết về với tiên tổ nên từ cổng sau là đường đi ra nghĩa trang.

Nghĩa trang ở phía Tây, phía của nhà Phật nơi các linh hồn siêu thoát. Hương ước nhiều làng còn quy định rõ những tội phạm, những người xấu, người không chấp hành lệ làng… thì đi, về không được theo lối cổng chính mà phải đi về cổng sau. Như vậy cổng trước mang tính bề nổi, thiên về giáo dục các giá trị tích cực thì cổng sau thiên về tâm linh, về sự răn đe, nhắc nhở… Hình như các nghiên cứu văn hóa hiện nay chưa chú ý sâu về hình tượng "cổng sau" này (!?).

Ngày xưa mỗi làng như là một "tiểu vương quốc" nên cổng được canh gác nghiêm ngặt, ngoài sự bảo vệ trị an chống trộm cướp, còn để giữ "lệ làng" (Phép vua thua lệ làng). Hai chữ "gác cổng" trở thành một ký hiệu ăn sâu vào tâm thức cộng đồng, dai dẳng đến mức ở ngày hôm nay vẫn mang ý nghĩa ban đầu, biểu thị một sự ngăn cản, giữ gìn không cho "ra vào" những gì trái "lệ làng", (tức "lệ" của cơ quan, ngành nghề, công việc...).

Nhiều xứ sở có hai loại cổng: cổng trời và cổng địa ngục

Ở Việt Nam có 4 cổng trời nổi tiếng là cổng trời chùa Linh Quy Pháp Ấn (Đà Lạt); Cổng trời mũi Nghinh Phong (Vũng Tàu); Cổng trời Sa Pa (Lào Cai); Cổng trời Bãi Trường (Phú Quốc). Như tên gọi, các cổng này đều hùng vĩ, thơ mộng, khách đến tham quan như được đưa lên trời hoặc chốn Bồng Lai chiêm ngưỡng những cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, như được siêu thoát, cởi bỏ mọi tục lụy để thanh khiết, trong lành.

Nhật Bản có cánh cổng trời Torii thiêng liêng gắn liền với sự tích xứ sở "mặt trời mọc". Hiểu theo lối chiết tự thì "Torii" có nghĩa là "nơi gà ở" có từ truyền thuyết cổ: nữ thần mặt trời Amaterasu trốn vào trong hang để tránh trò quấy phá của đứa em trai nghịch ngợm. Cửa hang bị lấp kín gây ra hiện tượng nhật thực. Mọi người lo sợ mặt trời không trở lại thì mặt đất sẽ tối tăm, cây cối sẽ chết… Họ bèn dựng lên một cái sào bằng gỗ và thả nhiều gà trống đậu trên đó. Đám gà trống gáy ầm ĩ làm nữ thần mở cửa hang. Thừa dịp, các võ sĩ sumo to lớn chạy đến đẩy hòn đá sang một bên... Mặt trời rực rỡ trở lại. Cái sào bằng gỗ cho gà đậu này là cánh cổng Torii đầu tiên. Về sau Torii trở thành biểu tượng cho sự thịnh vượng, sung túc, may mắn có ở khắp đất nước Nhật Bản. Bước qua cổng Torii là bước vào con đường đến với thần linh nên ai cũng phải rửa tay thật sạch và ngậm nước  - biểu thị sự tĩnh lặng, thanh tịnh.

Cổng trời của đất nước Bolivia có cánh được khắc từ miếng đá nguyên khối, nặng khoảng 10 tấn, có niên đại khoảng 1.500 tuổi (từ văn minh cổ đại Tiwanaku). Theo truyền thuyết nơi cổng trời này thần Mặt trời Viracocha sáng tạo ra loài người và qua cánh cổng các thần mới có thể đi lại giữa các thế giới.

image003.jpg -1
Cổng Ấn Độ.

Về những cái cổng mang tính biểu tượng quốc gia thì cổng Ấn Độ rất nổi tiếng. Ban đầu cổng có tên là "All India War Memorial" sau được đổi lại thành "India". Là một tượng đài kiến trúc của thế kỷ 20 theo phong cách Ấn-Saracenic, cổng được dựng lên kỷ niệm hành trình của vua George V và hoàng hậu Mary trong chuyến thăm Ấn Độ năm 1911. Về sau cổng cũng là đài tưởng niệm cho hơn 80 nghìn người Ấn Độ hy sinh trong thế chiến thứ nhất. Cấu trúc cổng là vòm làm bằng đá bazan, cao 26 mét (85 feet). Thiết kế được phê chuẩn năm 1914, được hoàn thành vào năm 1924. Ngoài ra, nước Đức có cổng Brandenburg Gate (tại Berlin) và Khải Hoàn môn (ở Siegestor - Muenchen). Nước Pháp có Khải hoàn môn (Paris)…

Nhiều tôn giáo, tín ngưỡng cho rằng có một thế giới địa ngục. "Cổng địa ngục" là cái bản lề khép mở hai thế giới: dương gian/ âm phủ. Dù tin hay không thì trên thế giới vẫn có các cổng địa ngục nổi tiếng, có thể kể đến "Giếng thần Thor" ở Mỹ. Lấy tên thần sấm Thor (trong thần thoại Bắc Âu) để chỉ một hố sụt tự nhiên hình phễu nằm ở mũi Perpetua, theo truyền thuyết là con đường dẫn xuống âm phủ. Đến nay vẫn chưa thám hiểm được mạch nguồn và độ sâu của hố. Chỉ biết, mỗi khi thủy triều lên, nước từ hố trào phun lên những tảng đá xung quanh tạo ra cảnh tượng kỳ thú khó tả.

Nhiều nước châu Âu có chung tên gọi "cổng Hades" hay "các cửa âm phủ" đều chỉ con đường đi xuống địa ngục. Hades là tên của vị thần cai trị vương quốc của người chết (còn gọi là "ngôi nhà của Hades"). Thần thoại kể thần Hades phải lòng nàng Persephone - con gái Demeter (nữ thần của mùa màng). Hades tới chỗ Persephone đang dạo chơi và biến thành bông hoa thơm. Nàng vừa giơ tay chạm vào bông hoa thì mặt đất nứt toác và Hades giơ tay kéo Persephone xuống dưới cõi âm… Từ đó, nơi này được gọi "cổng Hades". Người Hy Lạp cổ tin rằng hang đá bên dưới ngôi đền ở Hierapolis là lối đi xuống địa ngục được cai quản bởi Thần Chết Hades. Nên nếu ai đặt chân vào miệng hang sẽ bị ngạt thở mà chết. Mãi về sau khoa học mới tìm ra "khí độc chết chóc" này do hoạt động núi lửa gần đó phát ra!

Truyền thuyết trên lý giải nhiều nơi lấy tên Hades hoặc "Cổng địa ngục" để chỉ miệng núi lửa. "Cổng địa ngục" ở Turkmenistan chính là miệng núi lửa Darvaza có nhiệt độ lên tới 1.000 độ C… "Cổng địa ngục" ở Siberia là miệng núi lửa Batagaika khổng lồ, rộng 1km, sâu tới 85m và ngày càng sâu, rộng hơn. Truyền thuyết vùng thị trấn Hellam (Mỹ) kể có 7 cánh cổng địa ngục bí ẩn tồn tại trong rừng. Đến nay chỉ tìm thấy một "cổng". Dĩ nhiên chẳng ai dám "khám phá" nên sự bí ẩn vẫn mời gọi và các cánh cổng ấy vẫn đang mở trong truyền thuyết…

Phía trong cánh cổng luôn là một thế giới khác. Theo nhiều nghiên cứu kiến trúc, mái vòm nhà thờ chính là mô hình cổng, những ai bước vào đó sẽ bước vào một thế giới thiêng, cao cả. Những cô gái tươi trẻ bước qua cái cổng "vu quy" cũng là bước sang một thế giới khác hẳn…!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).