Cái chữ Nôm Dao của thầy Tẩn Vần Siệu

"…Tích đức nhiều phúc, tích ác lắm họa/ Đừng tức chuyện không đâu, trời có lúc xế bóng/ Của đến bất nghĩa, ra đi dễ dàng…"  -  Điềm đạm, khúc chiết, "ông thầy" Tẩn Vần Siệu thong thả mở đầu câu chuyện -  "Đấy là một trong những trăm ngàn lời răn dạy của tổ tiên người Dao chúng tôi được ghi chép trong sách đạo lý dành cho con cháu muôn đời!".

Tôi còn chưa kịp có phản ứng gì thì, Tẩn Vần Siệu, người mà bà con dân tộc Dao thôn Tà Chải, xã Tả Phìn, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai vẫn trân trọng gọi là "thầy giáo" thủ thỉ lên tiếng kể câu chuyện về cuộc đời mình. Anh Siệu bảo, mình đã từng có những năm tháng tuổi trẻ vô cùng sôi nổi. 

Tẩn Vần Siệu chưa hề mơ rằng một ngày nào đó sẽ làm cái việc "gõ đầu trẻ". Nhưng anh khát khao được trao truyền những bài học làm người tới mọi lớp trẻ người Dao thông qua những cuốn sách đạo lý mà tổ tiên của mình truyền dạy. Bởi khát vọng đó, Tẩn Vần Siệu tìm đến với lớp học tiếng Nôm Dao cổ từ cái lúc còn "chưa biết thế nào là đàn ông".

ngoài giờ dạy học, thày giáo tẩn văn siệu dành phần lớn thời gian sưu tầm, lưu giữ,...những cuốn sách dao cổ..jpg -0
Ngoài giờ dạy học, thầy giáo Tẩn Vần Siệu dành phần lớn thời gian sưu tầm, lưu giữ,... những cuốn sách Dao cổ.

15 năm trời miệt mài đèn sách học cái chữ của cha ông để lại, Tẩn Vần Siệu háo hức chuẩn bị cho lễ cấp sắc để làm thầy thiên hạ. Anh cảm giác rất rõ bàn tay mình sắp chạm vào giấc mơ ngày nào. "Phúc bất trùng lai. Họa vô đơn chí!". Một biến cố lớn đầy bất ngờ đã giáng xuống đầu Tẩn Vần Siệu.

Cú tai nạn khủng khiếp ấy đã khiến cho Tẩn Vần Siệu bị cụt một bên tay. Và hỏng một con mắt. Tẩn Vần Siệu cảm thấy cánh cửa cuộc đời đóng kín lại, chôn vùi vĩnh viễn mọi khát vọng nhân văn. Anh tự "cầm tù" mình trong ngôi nhà chật hẹp, tù túng.

Sau bao ngày ủ rũ vì cái cảm giác cuộc đời đã chạm đích cuối con đường hầm tăm tối, một đêm rất dài nọ, Tẩn Vần Siệu bỗng hốt hoảng giật mình tỉnh thức ra cái điều này: Lâu nay mình đã buông bỏ số phận một cách hèn nhát. Bản chất truyền thống của người Dao không bao giờ như vậy.

Mình là người tàn tật đấy, nhưng nhất định không thể trở thành một thứ "của nợ" của vợ con. May mắn hơn rất nhiều người trong cộng động người Dao khi mình vẫn còn một bàn tay để cầm bút; một con mắt để nhìn cuộc đời sáng -  tối. Bởi thế, nhất định không thể trở thành một thứ phế tích vô dụng được.

Vào đúng cái thời khắc chuyển giao giữa bóng tối và ánh sáng đêm hôm đó, Tẩn Vần Siệu đã thề với lòng mình như thế, ấy vậy! Đấy cũng chính là giờ phút thiêng liêng khi anh nhớ tới các thế hệ trẻ em người Dao. Nếu con em người Dao không được học chữ Nôm Dao cổ thì tiếng của cha ông sẽ dần mất đi. Không còn chữ Nôm Dao cổ thì người Dao chả còn là chính mình nữa.

Dạy chữ Nôm Dao cổ thì phải mở lớp tại gia thôi. Và thầy phải nuôi trò. Sáng ấy, khi con gà vừa dứt nhịp báo thức cuối cùng trong đêm, Tẩn Vần Siệu háo hức đánh thức vợ con. Anh phấn khích đem cái ý tưởng mở lớp dạy chữ Nôm Dao cổ "trình bày" với họ. Nhưng Tẩn Vần Siệu không nhận được sự đồng thuận của vợ con. 

Gia cảnh Tẩn Vần Siệu đâu có được như người ta. Quanh năm túng bấn bần hàn, chưa ăn bữa trưa đã bấn loạn lo bữa tối thì lấy gì mà nuôi đám học trò đang tuổi ăn tuổi lớn. Nhà cửa rách nát, chật hẹp lấy đâu ra chỗ kê bàn đặt ghế cho bọn trẻ học hành. Lại còn chỗ ăn, chỗ ngủ nữa chứ.

Muốn đọc thông viết thạo Nôm Dao cổ mỗi học trò ít nhất  phải theo học ba năm trời ròng rã. Chỉ khi ấy, học trò may ra mới có thể nhận được mặt con chữ, đọc thuộc lòng, hiểu về đạo lý làm người. Phải tới năm cuối trò mới được dạy các bài cúng, bài hát Dao cổ. Và cách thức tổ chức các nghi lễ như lễ cấp sắc, lễ cúng Tết, ngày rằm… Không nuôi nổi trò, "ông thầy" Tẩn Vần Siệu còn mặt mũi nào nhìn cha mẹ chúng?

"Lực bất tòng tâm!". Vợ con có cái lý của họ. Nhưng Tẩn Vần Siệu không thôi từ bỏ giấc mơ. Anh nhẫn nại thuyết phục vợ con. Và một ngày kia, Tẩn Vần Siệu có được điều mình mong muốn: vợ con ủng hộ ý tưởng mở lớp dạy chữ Nôm Dao cổ trong hoàn cảnh đời sống hằng ngày luôn phải "giật gấu vá vai… truyền thống".

lớp học miễn phí của thày tẩn văn siệu.jpg -0
Lớp học miễn phí của thầy Tẩn Vần Siệu.

Cậu con trai cả của Tẩn Vần Siệu hăm hở vác dao vào rừng tìm kiếm cây que để có bàn ghế cho những đứa học trò tương lai. Và cả chỗ ăn chỗ ngủ của chúng nữa. Còn Tẩn Vần Siệu phấn chấn thực hiện cuộc chinh phục mới. Anh đôn đáo lặn lội tới tất cả những bản người Dao trong huyện, tỉnh. Rồi các địa phương lân cận năn nỉ thuyết phục các bậc cha mẹ cho con em tới học cái chữ Nôm Dao cổ.

Cái sự ấy còn khó hơn vạn lần việc vượt qua hàng trăm đỉnh Phan Xi Phăng. Nhưng Tẩn Vần Siệu không nản lòng. Rồi thì cũng tới lúc không ít người Dao bản gần, huyện xa hiểu được cái chữ TÂM của Tẩn Vần Siệu trước sự tồn tại, phát triển của chữ Nôm Dao cổ. Người ta hoan hỉ mở cánh cửa khép kín lâu nay mỗi khi thấy bóng dáng Tẩn Vần Siệu xuất hiện trong bản mời anh vào nhà. 

Đứa trẻ đầu tiên rụt rè theo chân Tẩn Vần Siệu vượt đường xa về nhà anh. Rồi đứa trẻ thứ hai; thứ ba,…và thứ 20 lần lượt tự nguyện học chữ Nôm Dao cổ. Anh con trai cả  "vô tư" làm người trợ giảng của cha, cho dù miếng cơm manh áo là nỗi lo thường trực của bản thân.

Từ cái "mốc lịch sử" 2003 ấy tới nay, lớp học của Tẩn Vần Siệu liên tục giữ sĩ số gần 50 cô cậu học trò. Anh vừa làm thầy vừa làm một người cha thân thiện, mực thước của  đám trò ấy. Còn người vợ tần tảo thảo hiền của Tẩn Vần Siệu quanh năm đầu tắt mặt tối với hàng núi lo âu xoay xỏa cái ăn, giấc ngủ cho đám học trò, ấy thế!

*   

Anh Tẩn Vần Siệu kể, từ thời "ngày xửa… ngày xưa", người Dao đã không bao giờ cho con gái của mình được học cái chữ Nôm Dao cổ. Người ta mặc định thế này: đàn bà con gái mà tới lớp thì các bài học về cúng lễ sẽ không bao giờ linh nghiệm. Nhưng "ông thầy" Tẩn Vần Siệu lại có quan niệm hoàn toàn khác với nếp nghĩ truyền thống ấy.

Luôn đau đáu với khát vọng phải giữ gìn, phát triển cho bằng được vốn văn hóa cổ truyền của cha ông, Tẩn Vần Siệu nuôi dưỡng ước mơ: phải xóa bỏ hủ tục lạc hậu đó. Nam nữ bình đẳng, con gái Dao nhất định phải được học chữ Nôm cổ. Có học thì người ta mới có cơ hội nuôi mầm văn hóa, đạo lý giáo dưỡng thâm sâu cổ kính. Nhưng cũng rất hiện đại mà cha ông truyền lại để hướng con cháu mình biết sống thế nào là tử tế, có ích cho gia đình, cộng đồng.

Ngoài các buổi lên lớp tại gia, thầy Siệu bắt đầu những cuộc hành trình mới. Cơm đùm cơm nắm, tay nải khoác vai, Tẩn Vần Siệu lọ mọ tìm đến các bản, xã tại huyện Sa Pa. Chẳng ngại đường đèo đường núi, sông suối cách trở, ông thầy ấy còn sang tận Lai Châu; Yên Bái,… tìm gặp Trưởng các dòng họ người Dao thuyết phục họ cho những đứa cháu gái tới lớp học của mình.

Sẽ chẳng thể có bút lực nào lột tả hết nỗi vất vả của thầy Siệu trong việc đó đâu. Đã tưởng Tẩn Vần Siệu phải bỏ cuộc. Nhưng không, vào một ngày đẹp trời của cái năm 2015 ấy, Tẩn Mẩy Chiệp cô bé đầu tiên góp mặt vào lớp học của Tẩn Vần Siệu. Nay thì Chiệp đã theo lớp được mấy mùa hè cùng với rất nhiều bạn gái khác, vậy đấy!

*

"Thấy bảo ngoài việc dạy chữ Nôm Dao cổ cho học sinh, anh còn miệt mài sưu tầm những câu dân ca bằng chữ Dao cổ đồng thời dịch sang tiếng phổ thông? Và đã cho ra mắt những cuốn sách rất có giá trị?" -  Tôi dạm hỏi Tẩn Vần Siệu. "Những bài dân ca cổ Nôm Dao là kho tàng văn hóa, dạy cách làm người tốt!" -  Tẩn Vần Siệu chợt phấn khích lạ thường - "Không những thế, nó còn thể hiện các nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Dao. Phải lưu giữ chúng lại cho các thế hệ sau này chứ!".

"Vừa làm thầy vừa tích cực sưu tầm, biên soạn những cuốn sách truyền dạy chữ Nôm Dao cổ có lúc nào anh cảm thấy mệt mỏi không?". Sau cái cười thuần khiết, Tẩn Vần Siệu trải lòng: "Mình chỉ thấy vui thôi mà. Mong sao ông trời ban cho thật nhiều sức khỏe để mình tiếp tục cho ra đời những cuốn sách Nôm Dao cổ có ý nghĩa. Và nhất là mở được thật nhiều lớp học nữa. Càng nhiều học trò tìm tới mình thì càng có lắm người thông thạo cái chữ của ông bà ngày xưa đấy. Như thế thì chữ Nôm Dao cổ cũng không bao giờ bị mất đi. Vì nó được truyền từ người này sang người kia. Từ lớp cháu con này tới thế hệ đi sau mà!".

Ôi, thì ra việc mở lớp trao truyền chữ Nôm Dao cổ của Tẩn Vần Siệu chính là cái cách ông thầy này lo bảo tồn, phát triển vốn di sản văn hóa phi vật thể của tổ tiên người Dao. Mà có vẻ như phương pháp của Tẩn Vần Siệu rất đáng được đúc kết thành bài học để có thêm kinh nghiệm trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Vậy chăng?

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).