Bùi Thị Xuân Mai, con sóng nhỏ say mê

Lớp sinh viên Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa 11 (1966-1970), tựu trường từ muôn nẻo đường chiến sự của đất nước, bằng rất nhiều phương tiện giao thông, phần lớn là đi bộ, nên ai cũng lấm bụi đất chiến tranh, lôi thôi sĩ tử…. Họ gồm trên bảy mươi chàng trai, cô gái mới mười tám đôi mươi, vừa tốt nghiệp phổ thông, gặp nhau nơi núi rừng trùng điệp, bạn mới lạ lẫm, gian nan nhiều bề, đói rét thường nhật, nhớ nhà triền miên…

Nhưng bỏ qua cái vẻ bề ngoài “lôi thôi sĩ tử” kia đi, trong trái tim, trong đôi mắt của những chàng trai, cô gái sinh viên ấy đang cháy lên biết bao niềm say mê học tập, niềm tin yêu cuộc sống… Cô sinh viên hiền hậu với hai bím tóc tết đuôi sam bỏ ngang vai Bùi Thị Xuân Mai cũng hòa trong những gương mặt đáng yêu ấy.

Bùi Thị Xuân Mai, con sóng nhỏ say mê -1
Tiến sĩ, nhà thơ Bùi Thị Xuân Mai.

Vốn là học sinh miền Nam, lớn lên và học tập trên đất Bắc, Bùi Thị Xuân Mai ít nói, hiền lành, khiêm nhường và giản dị. Nhưng chỉ những ai để ý mới thấy bên trong Mai không hề “yên lặng” mà là ẩn chứa một nội tâm phong phú, thơ mộng, một tình cảm sâu nặng, nhất là tình cảm với quê hương, xứ sở, với những nơi chị đã từng trải qua trong suốt thời thơ ấu, nơi đã từng cưu mang chị thời cắp sách đến trường… Đây là cái gốc, cái nguồn mạch của tâm hồn chị.

Đúng như con người chị, thơ Bùi Thị Xuân Mai không “to lời lớn tiếng”, ngược lại, là một tiếng nói thầm kín, dịu dàng. Chị nhận mình là "nhỏ nhoi như suối/ Róc rách lời ban mai" là “con sóng nhỏ mê say”. Vì thế thơ chị thầm thì mà đằm thắm:

Ai ơi ngược lối về nơi ấy
Chuyển giúp giùm tôi nhánh mai vàng
Hương hoa sẽ níu cơn gió lại
Cho biển yên lòng lúc xuân sang

                      (Nhánh mai vàng)

Hình như chị là “nhánh mai vàng” của một vùng biển động đang muốn nhắn gửi đến “nơi ấy”, cái nơi chắc chắn chị rất nặng lòng? Bùi Thị Xuân Mai thường là vậy, thủy chung và tình nghĩa, nhớ nhung và khắc khoải. Đây là nỗi lòng của người đí xa về lại ngôi nhà cũ của mình: có tiếng động mà sao vẫn bị át đi bởi “cỏ dại, rêu phong”, mà sao vẫn thấy cô quạnh trên mỗi bước chân, nơi bóng cha, bóng mẹ chỉ còn trong tâm tưởng:

Đông Tây hai phía tường hiu quạnh
Cỏ dại rêu phong bóng ngả chiều
Tiếng ai ru trẻ còn vang vọng
Chó sủa ngoài hiên, tiếng dế kêu   
   

                  (Về thăm nhà cũ)

Một lần chị trở về nơi ngày xưa chị theo học, mái trường thân yêu trên đất Hải Phòng với biết bao tình nghĩa. Với niềm xúc động tận tâm can, chị gửi vào thơ cả tâm tình của mình bằng những ngôn từ thủy chung, ơn nghĩa:

Cánh chim bay khắp mười phương
Sáng nay gặp lại mái trường ngày xưa
Cái màu vôi vữa nguyên sơ
Đằm trang sách vở đến giờ chưa phai
Trường đời dẫu lắm chông gai
Chảy qua dâu bể sông dài vẫn trong

                            (Gặp lại ngày xưa)

Nhà thơ đã đi qua biết bao năm tháng, chứng kiến biết bao đổi thay, biết bao “chông gai”, “dâu bể”…, vậy mà trong tâm hồn chị vẫn “trong trẻo”, vẫn nguyên vẹn “cái màu vôi vữa” của mái trường xưa. Chỉ có thể gọi tên đó là sự chung thủy, một sự chung thủy sâu sắc của một trái tim từng trải, từng va đập, nhưng biết phân định những gì là son sắt là đinh ninh sau những năm tháng không đơn giản của đời người!

Nhớ hôm nào cả lớp K11 Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội trở lại cánh rừng Tràng Dương, nơi chị trải qua những năm tháng sơ tán, Bùi Thị Xuân Mai như trẻ lại với suối trong, cuội trắng…, nơi lưu giữ những ký ức không phai mờ một thời “chớm lớn”, nơi trải qua biết bao vui buồn của thuở sinh viên, nơi mà mỗi khi nhớ về hình như trong mỗi trái tim lại bập bùng ánh lửa gian nan giữa rừng của bếp ăn thời chiến tranh. Nhưng vượt lên những nỗi nhớ kia, vẫn là một Tràng Dương tinh khôi núi rừng:

Suối vẫn trong đợi mắt người xa vắng
Bước chân trần chạm viên cuội rưng rưng
Tràng Dương ơi! Người xanh tươi thánh thiện
Tình yêu tôi mãi mãi xuân rằm

                             (Đồng vọng)

Một tấm lòng hồn hậu, một ký ức trong trẻo, một tâm trạng xúc động. Bùi Thị Xuân Mai vốn kín đáo, ít khi bộc bạch nội tâm ("Em nhỏ nhoi con suối/ Róc rách lời ban mai" - "Tình yêu ngọt ngào"; "Em là con sóng nhỏ mê say" - Trăng Thiện Chánh) nhưng kín đáo mà không hề khép kín. Những gì chị trải lòng trong thơ cho ta thấy một tâm hồn đằm thắm, rộng mở, đón nhận, bao dung, say mê:

Xa xôi thế sao bỗng nên gần gũi
Ta giang tay ôm Cốc Lếu vào lòng

                      (Lào Cai ơi)

Nhiều khi là cái “vấn vương”, “chạnh lòng” rất thi sĩ của một người giàu cảm xúc trước thiên nhiên, trước lịch sử. Thi nhân là vậy, họ không dửng dưng trước cuộc đời. Ngược ại, họ âm thầm ghi nhận và đưa vào những câu thơ như những “ghi chú của tâm hồn”:

Thạch Động, Chùa Mây lòng vấn vương
Qua hòn Phụ Tử chạnh niềm thương

                         (Về Hà Tiên)

Một lần đến Hàn San tự, với cảm thức nhân thế “mang mang thiên cổ sầu”, Bùi Thị Xuân Mai lắng nghe trong tâm khảm mình một trăm linh tám tiếng chuông chùa như muốn hòa chung tâm trạng của hôm nào của Trương Kế:

Chuông ơi sao tan được
Trăm lẻ tám nỗi sầu

                    (Vãn Hàn San tự)

Bùi Thị Xuân Mai, con sóng nhỏ say mê -0
Bìa tập thơ "Nên một mùa mưa hoa" của tác giả Bùi Thị Xuân Mai.

Bùi Thị Xuân Mai không chỉ hồn hậu, dịu dàng, chị là nhà thơ khiêm nhường, biết hy sinh, biết dâng hiến. “Phần nổi” bé nhỏ như bao số phận khác là để “bươn chải với đời”. “Phần chìm” chất chứa khát vọng tình yêu là phần chị âm thầm dâng hiến, đem cho. Và như thế chị là người hạnh phúc: "Em như băng đảo/ Một phần năm nổi trên mặt nước/ Bươn chải với đời/ Bốn phần năm khát vọng chìm trong biển/ Đó là tình yêu rất thật/ Dành cho anh" (Băng đảo).

Khác với nhiều cây bút khác đề quá cao “cái tôi” của mình, Bùi Thị Xuân Mai tự nhận mình: "Em chỉ là chiếc lá/ Nhỏ nhoi đậu trên cành/ Một cánh hoa mỏng manh/ Giữa đời bao hương sắc…Em chỉ là một khắc/ Trong vô tận thời gian/ Và chỉ là một hạt/ Trong mênh mông cát vàng" (Cầu nguyện).

Nhưng “một khắc trong vô tận thời gian” kia, “một hạt trong mênh mông cát vàng” kia đang mang trong mình “biển khát”. Đó chính là “ký hiệu” cho ta biết tâm hồn của chị: "Lòng em là biển khát/ Dòng máu nóng mặn mòi/ Như muôn trùng sóng biếc/ Nhớ về anh không nguôi" (Biển khát).

Thơ Bùi Thị Xuân Mai không chỉ có hồn hậu, dịu dàng, khiêm nhường… Như bao thi nhân khác chị sống và rút ra những bài học từ cuộc sống. Những lúc như vậy thơ chị cũng rất đa sự, nghĩ ngợi, chân thành, sâu lắng dễ tạo ra sự đồng cảm.

Thơ chị thảng hoặc trầm ngâm triết lý, chất chứa nỗi niềm: "Chiều nay biển ốm rồi/ Sóng đục ngầu vật vã/ Tóc bạc tung trắng xóa/ Trăn trở bao nỗi niềm" (Biển ốm).

Thơ chị cũng đã từng thấm thía cô đơn: "Hồi chuông nào góa bụa/ Trời xanh sắc bồ đề/ Có thương người đơn chiếc/ Hoàng hôn tím hồn quê" (Hoàng hôn).

Thơ chị cũng đôi lúc thảng thốt, hoang vu, lạnh lùng: "Trông ánh sao băng trời tái mặt/ Anh đi phố xá lạnh như chùa/ Tưởng tay chẳng còn gì để mất/ Rêu mọc hồn em đã vạn mùa" (Hoang vu).

Có thể hình dung chị đang ngẫm ngợi, đang trăn trở, đang trắc ẩn “buồn thương gì khôn nguôi” trên bến thời gian, khi chị nhận ra “Ga lòng tôi đang mưa” (Còi tàu). Nhưng chị là cây viết hướng thiện, lấy lòng tốt của mình cảm hóa để mọi sự diễn ra tốt lành, lấy ngôn từ của mình để làm lành vết thương đau: "Có vầng trăng/ Lưu lạc bến Bạch Đằng/ Sóng nước cuốn/ Vỡ ra trăm mảnh/ Em vớt lên/ Ủ giữa bàn tay ấm/ Trăng lại lành/ Vầng sáng lung linh" (Vầng trăng lưu lạc). Như có lần chị thừa nhận đây thôi: "Nếu em không là mùa xuân/ Cho lòng anh hoa nở"…

Có thể nhận ra sự bao dung và bản lĩnh trong tính cách, tâm hồn chị!

"Nên một mùa hoa mưa" là tập thơ chọn của Bùi Thị Xuân Mai sau mấy chục năm sáng tạo mê say. Là “thơ chọn” nên khá nhiều chủ đề được đề cập đến trong thơ. Từ chủ đề chiến tranh sang thế sự. Cũng như khá nhiều vùng đất được nhắc đến trong thơ, những nơi chị đến và ghi lại những xúc cảm của mình. Chủ đề nào, vùng đất nào với chị cũng là những nơi chị ghi nhớ và biểu hiện những cảm xúc chân thành của một ngòi bút cần mẫn và mê say.

Hà Nội tháng 6 năm 2025

Tiến sĩ, nhà thơ Bùi Thị Xuân Mai, sinh năm 1948, tại Bình Định.

Tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn Đại học Tổng hợp năm 1970.

Vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 2010.

Từng là Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thông tin tỉnh Bình Định.

Đã xuất bản 8 tập thơ: "Hạt cát vàng", NXB Trẻ, 1990; "Cầu trăng", NXB Trẻ, 1994; "Dòng sông thao thức", NXB Hội Nhà văn, 2000; "Từ Krong Bung", NXB Đà Nẵng, 2003; "Lời ru bếp lửa", NXB Văn học, 2005; "Những vì sao lặng lẽ", NXB Hội Nhà văn, 2015; “Mùa đông thương nhơ”á, NXB HNV, 2020; "Nên một mùa mưa hoa", NXB Hội Nhà văn, 2024). Ngoài ra còn 3 tập văn xuôi và 1 tập truyện ngắn cho thiếu nhi.

Đã được tặng thưởng 6 lần Giải Văn học Đào Tấn - Xuân Diệu.

Lê Thành Nghị

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).