Đọc trường ca “Những ngọn khói về trời” của Bùi Phan Thảo, NXB Đà Nẵng, 2022

Bùi Phan Thảo với khúc ca bi tráng

Trường ca "Những ngọn khói về trời" của Bùi Phan Thảo là cuốn truyện bằng thơ, kể lại một thảm họa lịch sử - đại dịch COVID - 19 vừa mới xảy ra ở TP. Hồ Chí Minh.

"Những ngọn khói về trời" giống như một bộ phim tư liệu nhiều tập, có nhiều phân cảnh đan xen, có những khung cảnh chung bi tráng, có lúc lại cụ thể chi tiết như ống kính tập trung đặc tả. Mười chương của trường ca:"Đêm trước ngày phong tỏa", "Nhân loại bàng hoàng", "Sài Gòn đau một phần thân thể", "Những chiến binh thầm lặng", "Thơm mãi những bàn tay", "Chúng tôi chỉ tạm xa thành phố", "Những ngọn khói về trời", "Đối diện", "Tưởng niệm", "Hồi sinh" đã tái hiện được cả quá trình của thảm họa đau thương mà người dân thành phố gánh chịu…

Mở đầu tập thơ là những "thước phim" tả cảnh TP Hồ Chí Minh "Đêm trước ngày phong tỏa" đầy âu lo, với dự cảm tang tóc cận kề. Ống kính tập trung vào nhân vật "tôi - tác giả" đang mất ngủ "đứng trên tầng 20 cao ốc chung cư" nhìn xuống thành phố "ánh điện nhiều tháng rồi vàng vọt hơn…". Vì dịch bệnh kéo dài đã nhiều ngày nên "thành phố vắng hoe… tiếng rao đêm đã chìm sâu sau những bức tường mái tôn dãy trọ/ không có tiếng xe ba gác phành phạch giữa khuya/ í ới gọi nhau ra chợ Bình Điền gom hàng về bỏ mối…" (tr 14).

bui_-_phan_-_thao.jpg -0
Nhà thơ Bùi Phan Thảo.

Những âm thanh trong đêm bây giờ chỉ là những âm thanh báo hiệu chết chóc: "Xe cứu thương rúc những hồi còi dài nhức nhối tâm can/ xoắn thêm những nỗi lo rõ ràng và mơ hồ/ có tên và không tên/ cứ sợ thành phố bật cơn ho rũ rượi/ ôm ngực đau/ đôi mắt thâm quầng"… Rồi ống kính máy quay đặc tả hai gương mặt: "Ông già bán vé số nằm chèo queo không biết ngày mai lấy gì để sống/ thằng bé lượm ve chai ngồi mơ gói xôi mặn có miếng lạp xưởng mỏng dính mỡ màng" (tr 14). Hai nhân vật này đại diện cho những thân phận tha hương nghèo khổ nhất, mỏng manh nhất trong đại dịch.

Nhà thơ dành nhiều dòng thơ miêu tả hoàn cảnh và nỗi tuyệt vọng của ông già bán vé số không rõ từ vùng quê nào lên thành phố mưu sinh. Tuy "Đất Sài Gòn dễ sống/ siêng năng tần tảo là có cơm ăn/ một góc vỉa hè cũng lập nghiệp, lập thân/ đất không phụ người, người không phụ đất/ Sài Gòn không đất lành chim đậu/ nhưng Sài Gòn bao dung cưu mang những phận dân nghèo" (tr 14), nhưng nào có ai nghĩ đến có một ngày dịch bệnh toàn thế giới kéo dài, cũng chẳng có ai nghĩ đến một ngày cả TP Hồ Chí Minh bị phong tỏa, nên giờ lâm vào cảnh lao đao. Lệnh phong tỏa đến trong lúc"những đồng tiền còm cõi đã bay đi theo bàn tay trắng", nhiều người chẳng còn khả năng trả tiền thuê nhà trọ, chẳng còn tiền mua nổi một cái bánh mỳ, hay cân gạo. Ông già kể: "Mấy hôm trước theo nhau làm một cuộc hồi hương bất thành/ quay lại sống qua ngày trong xóm trọ buồn thiu dây giăng tứ phía/ nay thành phố phong tỏa thêm một tháng/ lại vội vã hồi hương rồi cũng bất thành…" (tr 15).

Dịch bệnh đã tạo nên cảnh "sân bay vắng bóng người/ quốc lộ vắng bóng người/ phố xá đìu hiu/ làng quê quạnh quẽ/ ai ở đâu yên đấy/ mà lòng nào yên…"  (tr 26). TP Hồ Chí Minh trở thành nơi ''những chùm ca bệnh dồn vào hẻm nhỏ/ khăn tang trắng từ đầu con phố/ nước mắt vòng quanh ra đến bờ kinh" (tr 33-34).

Là nhà báo trực tòa soạn hàng ngày phải nhận dữ liệu, sắp xếp đưa tin số ca nhiễm bệnh, số người chết vì COVID-19 lên báo kịp thời, với Bùi Phan Thảo, đó không chỉ là những con số, mà còn là những thân phận bất hạnh của kiếp người: "Biết mỏng mảnh lằn ranh tử sinh/ mà vẫn nhói lòng con số mỗi ngày trên báo/ tôi ngồi lặng trước tin bài từng đêm giông bão/ ngoài kia gió quật mưa gào/ nước mắt khô lại đầy như biển/ sóng dâng lên trôi hết những vì sao" (tr 35).

Chương "Chúng tôi chỉ tạm xa thành phố" viết về cuộc hồi hương bất đắc dĩ là chương bi tráng nhất của trường ca. "Về thôi em/ về quê mình ư, xa lắm/ xa cũng phải về, ở đây không biết ra sao/ kéo nhau đi còn hơn chờ điều không rõ/ ừ thôi chở nhau về trên xe máy/ những ngả đường thiên lý vắng người qua/ bên vệ đường có ai nằm lại/ không đi nổi, bỏ cuộc rồi/ một nén nhang thay cho lời tạm biệt'' (tr 68-69). Cuộc hồi hương vạn dặm này (chủ yếu về phương Bắc) là con đường đi ngược với hành trình của cha ông. "Chúng tôi đi đường thiên lý rùng rùng/ vó ngựa xưa của cha ông tung bụi mù thế kỷ/ chinh chiến lao lung đổi lấy hòa bình/ con cháu hôm nay đối diện với nghiệt ngã tử sinh/ phải chọn lối về trú ngụ…" (tr 70).

Khó cầm được nước mắt khi đọc những dòng thơ tác giả miêu tả trong đoàn người hồi hương ấy, có hình ảnh người vợ trở về trong một chiếc bình tro trên tay người chồng: "Cha đưa mẹ về quê/ cha nâng mẹ trên tay ôm mẹ trong lòng/ đường dài hun hút mắt cha sâu như đêm trường/ Thôi em về yên nghỉ với quê hương/ bỏ lại phồn hoa những ngày yêu dấu/ những buổi tan ca hò hẹn tình đầu/ chúng ta đã có một gia đình/ có tiếng cười trong veo của con/ chúng ta đã có tất cả/ nhưng đại dịch đã lấy đi tất cả/ anh đưa em về/ quên hết buồn thương đau khổ/ em ngủ ngon trên xứ sở quê nhà/ trong lời ru ngọn gió đồng xa/ trong nỗi nhớ buồng tim anh quặn thắt…" (tr 73), hoặc người vợ vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần, mất trí, thẫn thờ, bởi trụ cột tựa nương của đời mình giờ chỉ còn là một bình tro: "Nhưng sao anh bỏ em đi trước/ em cô đơn và con mồ côi/… nén đau thương em biết mình mất trí/ quờ quạng đi quờ quạng sống qua ngày/ đưa anh về bến gió lắt lay/ gửi tro cốt lên chùa cho ấm cúng/ chiều xưa bờ sông tay trong tay/ chiều nay bờ sông hồi chuông rụng/ hơi thở trầm nghi ngút khói hương…" (tr 76)

z3842539913468_609bcdc7d98d8a167201580ae6e343ad.jpg -0
Bìa Trường ca “Những ngọn khói về trời” của nhà thơ Bùi Phan Thảo.

Hình ảnh "Những ngọn khói về trời", là ngọn khói lò hỏa thiêu, là biểu trưng cho những linh hồn từ bỏ cõi đời trần thế về với cao xanh. Nhìn những ngọn khói bay lên trời suốt ngày đêm, kéo dài trong nhiều ngày không ngớt, người ta biết được mức độ của thảm họa.

Đọc "Những ngọn khói về trời", ta thấy Bùi Phan Thảo như hóa thân vào linh hồn của những người đã khuất, nhiều người chưa đi hết nửa cuộc đời đã phải chịu cái chết oan uổng - để nói lên nỗi lòng của họ: "Lối về đã trùng trùng vạn dặm/ lũ quỷ dẫn đường cho cuộc chia ly/ âm dương nhập nhòa chiều hôm nhập nhoạng/ có người vịn cành cây rướn cổ hát một bài ca/ Hát rằng: Quê hương ơi ta từng có quê hương/ nhà cửa ơi ta từng có cửa nhà/ phiêu bạt thân ta về viễn xứ'' (tr 86) "Những người mà thân xác không được trở về với nơi chôn rau cắt rốn: "Xác thân cha mẹ cho trở về tro bụi/ không về với đất bên mảnh vườn nhà/ không về làng xóm nghe tre ru ngân nga/ vào chùa nghe kinh nhẹ lòng siêu thoát/ ra sông tan vào phù sa/ ở ngoài kia còn có bao người chờ tới lượt/ bó lấy thân và dòng chữ ghi tên/ có người chỉ ghi vỏn vẹn: vô danh" (tr 87). Hình như tất cả tình cảm, bút lực của nhà thơ đã trút hết vào chương "Những ngọn khói về trời" để tạo nên một chương cảm động nhất, hay nhất của trường ca.

Dịch bệnh đã tạm lắng. TP Hồ Chí Minh cùng cả nước tưởng niệm, cầu siêu cho những người đã mất, mong cho linh hồn họ được siêu thoát ở cõi vô cùng. Khói của những ngọn nến cũng giống như ngọn khói lò hỏa thiêu, là linh hồn những người từ bỏ cõi trần, những ngọn khói giống như những câu hỏi day dứt đối với người đang sống: "Ngọn khói như dấu hỏi quẩn quanh/ rồi cũng tan vào hư vô thăm thẳm… những câu hỏi không lời đáp/ những đớn đau không di cư…" (tr 102-103). Trong khi tưởng niệm, cầu nguyện cho người đã khuất, không khí đau buồn, bi thương lại hiện về: "Có ngày người dân nước tôi đã khóc/ nước mắt thành dòng/ chảy như sông/ trên khắp ba miền/ ngược nguồn thấm vào núi/ xuôi dòng về biển khơi/ bé thơ đội vành tang trắng/ thương em gan ruột bời bời/ Đại dịch cướp đi bao sinh linh vô tội/ trong mắt đầy lên ám tượng không rời/ chập choạng phiên chợ chiều cánh dơi bay vào lịch sử/ người gọi người hoảng hốt chơi vơi/ xin những người không thể trở về/ hãy yên nghỉ trong tiếc thương vô tận/ đêm nay ngọn nến sáng lòng người/ xoa dịu nỗi đau bằng bàn tay ấm'' (tr 103-104). Và mừng thay, bĩ cực thái lai, thành phố đã hồi sinh: "Nắng lên xanh phố phường tấp nập… bé thơ đến trường rộn ràng lớp học/ xí nghiệp vào ca tiếng máy như reo... xin cảm ơn người đã trở về/ lá gọi ngày đông tàn khẽ rụng/ đất gọi trời đem về xuân xanh/ đóa tình thơm, nở giữa lòng lành" (tr 107-114).

COVID-19 là đại họa, đồng thời đại họa cũng là lời cảnh báo, dạy cho con người những bài học đắt giá: Không được tự phụ, cao ngạo trước thiên nhiên - tạo hóa. Chỉ là con virus nhỏ bé, gần như vô hình, mà nó đã quật ngã những thân thể cường tráng, lấy đi hàng triệu sinh mạng trên thế giới, làm cả loài người chao đảo, bàng hoàng, nó tàn phá nền kinh tế của các quốc gia. Đại dịch cũng là phép thử, góp phần sàng lọc con người: Những mặt tốt của con người được bộc lộ rõ ràng, những mặt xấu được phơi bày trần trụi. Hai chương "Những chiến binh thầm lặng" (tr 39- 47) và "Thơm mãi những bàn tay" (tr 49-61) tập trung miêu tả sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ ngành y cứu mạng sống của người dân; miêu tả tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau của cả nước dành cho người dân Sài Gòn. Hai chương "Nhân loại bàng hoàng" (tr 17-28) và "Đối diện" (tr 91-98) góp phần vạch trần những bọn bất nhân vì lòng tham móc nối câu kết với nhau làm tiền trên sinh mạng của người dân vô tội và yếu thế. Nhà thơ khẳng định sẽ có lúc bọn bất nhân phải đối diện với tòa án lương tâm, đối diện với linh hồn những người chết trong oan ức, đối diện với luật nhân quả.

Châu Hồng Thủy

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).