Bờ sông sóng phố

Từ xa xưa ai cũng gọi đường Trần Nhật Duật là phố “Bờ sông”. Đường phố được hình thành dọc đê sông Hồng dài 800 mét, rộng 30 mét (từ phố Hàng Đậu tới Hàng Thùng).

Đường Trần Nhật Duật bao trọn khu “Kẻ chợ Thăng Long” cổ kính về phía đông bắc chạy qua ba phường Hàng Buồm, Đồng Xuân và Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm). Đây là đầu mối giao thông phố cổ lớn nhất Hà Nội khi đường Trần Nhật Duật nằm trên quốc lộ dẫn tới các cây cầu lớn bắc qua sông Hồng.

Phố của những bến sông và cửa ô xưa

Một thời tôi quen thân với họa sĩ Vân Thuyết ở số 46 Trần Nhật Duật nên hay tới đây xem tranh của anh. Ngôi nhà nhỏ của họa sĩ ngay mặt phố luôn ầm ầm tàu xe qua lại. Chung quanh các gia đình đều buôn bán làm ăn túi bụi suốt ngày đêm. Họa sĩ Vân Thuyết kể, nhiều nhà trên phố làm nghề kẻ biển số xe ô tô và xe máy đã lâu đời vì xưa gần bãi Cột cờ (tại ngã tư cuối phố Trần Nhật Duật) là bến xe khách và tàu thủy nhộn nhịp. Còn phía trên đầu phố có bến Nứa cũng là nơi đậu tàu xe đi các tỉnh.

Bờ sông sóng phố -1
Cầu Long Biên.

Anh cho biết, xưa chưa có đê, nước sông Hồng chảy vào tận bến thuyền ngay đầu phố. Điển hình nhất là bến Đò Ngang (phố Chợ Gạo) gần cửa Ô Quan Chưởng. Thuyền cập bến ở đây chở gạo qua sông Tô Lịch tới Cầu Đông (bên phố Hàng Đường). Phía trên còn có bến Hàng Nâu thuộc phố Hàng Nâu cũ (tính từ phố Gầm Cầu tới Ô Quan Chưởng). Dân thương hồ cất củ nâu, trầu vỏ và các loại hàng hạt đậu đỗ lạc đưa vào phố Hàng Đậu, Hàng Khoai. Còn phía dưới bến Đò Ngang có các bến Hàng Mắm, Hàng Chĩnh, Hàng Muối, Hàng Tre… Dọc đường Trần Nhật Duật có tới 6 bến sông 6 cửa ô vào phố. Về sau nước sông Hồng đổi dòng vì phù sa bồi đắp nên các bến bãi đều bị lấp để làm đường, xây nhà lập phố (từ năm 1888).

Những dấu tích các bến sông cùng cửa ô chỉ còn lại di sản Ô Quan Chưởng. Bên cạnh đó, phố Chợ Gạo chia làm hai nhánh chính là hình ảnh cửa sông Tô Lịch chảy qua thành phố. Nhà thơ Phan Vũ đã có lần cảm tác: “Em ơi! Hà Nội phố/ Ta còn em con đê lộng gió/ Dòng sông chảy mang hình phố/ Cô gái dựa lưng bên gốc me già”.

Sự biến động của dòng sông với thời gian cũng được nhà thơ chia sẻ cảm xúc bâng khuâng mỗi khi mùa nước về. Ông viết: “Ta còn em mùa nước đổ/ Sông Hồng mất tăm bãi Giữa/ Bè xuôi không ghé bến/ Con tàu nhổ neo về biển/ Hồi còi vọng/ Như một tiếng than dài/ Mùa này trăng vỡ trên sông” (Em ơi! Hà Nội-phố). Hồi đó nhà thơ Phan Vũ ở phố Hàng Bún (số 52) thường đi bộ lên đầu phố trên đường Yên Phụ (nối liền phố Bờ Sông). Bản trường ca “Em ơi! Hà Nội phố” đã được ông viết trong 12 ngày đêm giặc Mỹ bắn phá Hà Nội và dội bom B52 xuống phố Khâm Thiên (12/1972).

Chính quá trình hình thành con đường trên các bến sông, cửa ô mà phố Trần Nhật Duật cắt nhiều đường đi vào khu phố cổ. Họa sĩ Vân Thuyết cho hay, nếu tính từ phố Hàng Đậu cho tới Hàng Thùng thì phố có tới 10 lối rẽ vào chợ các phố Hàng. Những con đường quanh quanh phố xá vẫn còn lưu giữ hình ảnh Thăng Long ngày nào: “Nghìn thu gặp hội thái bình/ Trải xem phong cảnh khắp thành Thăng Long/ Phố ngoài bao bọc thành trong/ Cửa Nam, Giám, Bắc, Tây, Đông rõ ràng…” (Hà Nôi băm sáu phố phường).

Nhưng có điều bất ngờ đối với tôi khi họa sĩ kể, xã Nguyên Khiết (một trong hai vùng đất thuộc phố Trần Nhật Duật) chính là quê của nhà văn Nguyễn Cấp, người đã viết truyện thơ Nôm “Quan âm Thị Kính”, bản in vào thời vua Tự Đức (1868). Nhà văn Nguyễn Cấp đỗ Giải Nguyên (1813) được bổ làm quan và sau này nhận chức Tri phủ Thiên Trường (1829) thời Nguyễn. Theo trí nhớ của họa sĩ Vân Thuyết, ngôi nhà số 6 Trần Nhật Duật chính vốn là đất của đình làng Nguyên Khiết (còn có tên đình Hàng Nâu).

Phố hai cầu

Không ít họa sĩ đã tìm tới phố Trần Nhật Duật để vẽ tranh bởi lẽ đây là con đường độc đáo nhất Hà Nội khi có hai cầu bắc qua sông Hồng. Đầu phố gây dấu ấn kỳ thú bởi cây cầu Long Biên cổ kính và còm cõi bấy lâu nay. Một cây cầu có thời từng được xếp hạng thứ nhì trên thế giới (năm 1902) về kiến trúc hiện đại và độ dài (2.290 mét kể cả cầu dẫn). Người dân Thủ đô hoan hỉ vui mừng vì cây cầu với hình ảnh “Rồng sắt” trên sông Hồng. Họ truyền tụng trong dân gian: “Hà Nội có cầu Long Biên/ Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng/ Tàu xe đi lại thong dong/ Người người đi lại gánh gồng ngược xuôi”.

Cây cầu Long Biên còn được ví von với hình ảnh “Tháp Eiffel” nằm ngang. Vẻ đẹp của biểu tượng cây cầu càng ngày càng thu hút du khách bấy lâu nay với nét cỗi già tàn phai theo thời gian. Những gióng sắt đan chéo cao vọi tạo đỉnh vòm cầu làm mê hoặc lòng người. Đó là những vòm trời hình tam giác đan chéo như cánh sao khổng lồ bay trên dòng sông cuồn cuộn phù sa. Nhất là sự đổ vỡ và chắp vá qua cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ cách đây hơn nửa thế kỷ cũng tạo nên những ẩn ức trong tâm cảm lòng người. Sắc màu già nua hoen rỉ vàng nâu hồn nhiên trên từng thanh sắt gây xúc động cho bất cứ ai dừng chân trên cầu.

Hàng triệu người đã từng gắn hình ảnh cây cầu hơn trăm năm này với kỷ niệm của đời mình khi dạo qua thành phố. Hơn chục nhịp cầu đã bị sập vì bom đạn. Những vẻ đẹp lộng lẫy xưa nay còn đâu sau khi phục hồi và tạo dựng lại. Chính vì thế cầu Long Biên còn ẩn giấu vẻ đẹp kiêu hùng của một thời “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Mỗi nhịp cầu là một sự mê hoặc bởi sắc màu tàn phai cùng với niềm khao khát qua những chuyến tàu hú còi vượt sông.

Bờ sông sóng phố -0
Cột đồng hồ trên phố Trần Nhật Duật, đầu cầu Chương Dương.

Nếu chân cầu Long Biên nằm trên bến Hàng Nâu xưa thì trụ vòng xoay đầu cầu Chương Dương (khánh thành năm 1985) chính là bến bãi “Cột Đồng hồ” ở cuối phố Trần Nhật Duật. Ký ức về cột đồng hồ không bao giờ phai mờ với người dân Hà Nội. Bởi lẽ cây cột đồng hồ này còn được đổ móng xây trước khi dựng cầu Long Biên. Đây là một trong những cột đồng hồ (bằng sắt) đầu tiên được dựng lên cho hành khách theo dõi giờ tàu xe trên các bến bãi ở đường phố. Vào thời gian này chưa đắp đê nên dòng sông Hồng chảy vào tới gần các phố Hàng Muối, Lương Ngọc Quyến và Nguyễn Hữu Huân. Do vậy bến xe được đặt tên là “Cột Đồng hồ”.

Có thể ít người biết cây cột đồng hồ hơn trăm năm đó đã được lưu giữ và bảo tồn. Những người thợ cầu trả lại vị trí của nó trên trụ vòng xoay lên xuống cầu Chương Dương hiện nay. Bến tầu thì biến mất, nhưng cây cột đồng hồ vẫn hiện diện theo năm tháng như một trụ hoa ký ức của thành phố. Hàng ngày người người qua lại trên cầu thường đi vòng quanh trụ hoa thép này và lắng nghe thời gian bay vèo trong sóng gió. Đó là một ký ức thân quen sống dậy trên mỗi con phố được tụ về bến sông xưa: “Nơi tôi sinh Hà Nội/ Ngày tôi sinh một ngày bỏng cháy/ Ngõ nhỏ phố nhỏ nhà tôi ở đó/ Đêm lặng nghe trong gió/ Tiếng sông Hồng thở than” ("Hà Nội và tôi" - nhạc sĩ Lê Vinh).

Đồng vọng

Sự độc đáo của đường Trần Nhật Duật còn tạo được mỹ cảm khi trở thành con đường gốm sứ nối dài tới cung đường Yên Phụ. Qua những bức tranh được dựng tại tường bao đê sông Hồng (đối diện với dãy số nhà chẵn) tôi luôn bị ám ảnh về hồn vía Thăng Long ngàn năm. Bức tranh hoành tráng về Thủ đô ngay tại chân vòng xoay cầu Chương Dương như bản thánh ca về một thành phố Hòa bình. Một Văn Miếu hiện về. Một Hoàng thành linh thiêng. Và những cánh chim hòa bình bay rợp trời Thủ đô.

Tôi bỗng nhớ tới NSƯT Vũ Dậu, người đã gắn bó hàng chục năm ở phố Trần Nhật Duật. Giọng hát ngọt ngào trong trẻo của chị ngày nào vẫn còn vang vọng đâu đây, đó là một “Hà Nội niềm tin và hy vọng” cùng “Những ánh sao đêm” và “Cô gái mở đường”. Ký ức tràn về, sau trận chiến của đơn vị phòng không bắn máy bay Mỹ trên cầu Long Biên thì giọng hát của Vũ Dậu lại vang lên. Một cảm xúc tự hào linh thiêng dâng trào cảm xúc: “Hà Nội đó niềm tin yêu hy vọng/ Của núi sông hôm nay và mai sau/ Chân ta bước lòng ung dung tự hào/ Kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao” ("Hà Nội niềm tin và hy vọng" - Phan Nhân).

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).