Bình yên một thoáng Cà Xèng

Tôi trở lại Cà Xèng trên con đường dẫn vào bản Rục đẹp như tranh, nhỏ nhắn lượn quanh những lèn núi hẹp hay thải dài giữa thung lũng mướt mát xanh. Chẳng bù cho tháng 10 năm ngoái, nước lũ dâng ngập bốn bề, các bản làng bị cô lập hoàn toàn. Ngầm tràn qua suối Cà Xèng mất hút. Bùn lầy ngập các nẻo đường vào bản.

Thực tình, vào thời điểm ấy, vùng ngập nước giữa các lèn núi cao, bao quanh các bản làng ở Cà Xèng có vẻ đẹp lung linh hiếm có của nó. Nước sau lũ rất trong và phẳng lặng. Núi rừng soi bóng sâu hun hút. Đã có những ý tưởng phát triển du lịch mùa lũ ở đây. Nhưng tôi lại thấy có điều gì đó chưa ổn. Những kẻ rong chơi và có điều kiện xem đó là một chuyến đi kỳ thú, một dịp sống ảo đặc biệt nhưng với đồng bào Rục lại là sự thách đố tồn vong không lời giải. Tuy nhiên, từ ý tưởng đến hiện thực là chặng đường khá dài. Bây giờ thì tất cả lại quang quẻ như vốn có.

bản làng của đồng bào rục- xã thượng hóa- huyện minh hóa.jpg -0
Bản làng của đồng bào Rục, xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.

Người đầu tiên tôi gặp khi đến Cà Xèng là Đinh Píu. Đinh  Píu tự đoán bản thân khoảng 60 tuổi vì "Hồi nớ, không biết năm mô, mẹ mình đẻ ra mình ở trong hang!". Mới sáng mà ông ấy đã liêu xiêu trên đường trong hơi men. Đinh Píu gục gặc đầu không nói gì và tiếp tục đi. Một nửa cánh tay trái của Đinh Píu lủng lẳng theo nhịp bước chân chấm phẩy như chẳng liên quan gì đến cơ thể của ông ấy. 

Nghe bảo nó đã bị gãy làm đôi do Đinh Píu bị ngã khi vào rừng và ông đã được đưa đi bệnh viện nhiều lần để nối lại nhưng cứ lên bàn mổ là ông ấy lại ngất vì quá sợ, sau đó thì trốn viện về luôn. Lâu dần, chỗ xương gãy cũng lành nhưng cánh tay của Đinh Píu chia làm hai khúc. Và ông ấy cũng không có ý định tiếp tục đi viện nữa.

Tôi ái ngại hỏi: "Có đau không?". Trả lời: "Không đau!". Vừa nói Đinh Píu vừa giơ lên, thả xuống, đưa qua, đưa lại đoạn tay rời để chứng tỏ mình không đau đớn gì. Lại hỏi: "Nhưng tay ông vậy làm sao đi săn bắt, làm rẫy được?". Trả lời: "Không, mình không đi săn bắt thú rừng nữa. Cũng không đốt rừng làm rẫy, mình chỉ làm ruộng thôi. Một tay mình cũng làm ruộng được".

Ngày ấy sau nhiều lần vận động bà con trồng lúa nước không được, cán bộ Đồn biên phòng Cà Xèng quyết định làm mẫu. Khi cánh đồng màu xanh chuyển sang màu vàng. Màu vàng của lúa giữa thung lũng lèn núi đá vôi cao vút và xanh thẫm kích thích cực mạnh đến cảm xúc của đồng bào. Vì nó lạ lẫm. Vì nó đẹp đến rợn người. Và gặt.

Đến lúc này thì không cần "lôi kéo" nữa mà đồng bào lội ào xuống ruộng. Cán bộ gặt. Đồng bào bó. Rồi tuốt. Phơi. Xay. Và những hạt gạo trắng ngần. Đồng bào lại thốt lên "Ô cán bộ tài quá, cũng trồng được lúa dưới nước nữa a...". Thành công mùa đầu đã trở thành động lực cho các mùa tiếp theo. Bây giờ thì không cần phải đi từng nhà tuyên truyền vận động nữa. Cứ sáng sớm là đồng bào mang gùi ra ruộng để coi cái lúa của nhà mình ra răng. Xanh tốt không? Thiếu nước không? Cỏ mọc nhiều không?.

Từ vạt ruộng đầu tiên đến nay đồng bào Rục ở Thượng Hóa đã có cánh đồng gần 10ha lúa nước mỗi vụ, năng suất bình quân 40 tạ/ha. Tình trạng đốt rừng làm nương rẫy chấm dứt và nạn săn bắt động vật hoang dã trái phép cũng giảm hẳn. Bẫy, nỏ giờ chỉ là những kỷ vật của một thời hoang dã. Súng săn được nộp vào kho của Bộ đội, Công an. Trong những chiếc gùi đong đưa sau lưng dân bản là đùm cơm nắm bới theo khi làm ruộng, là cuốc cò, liềm hái. Đó là kết quả của cả một quá trình vận động kiên trì của cán bộ biên phòng Đồn Cà Xèng. Mỗi thay đổi của đồng bào được ghi nhận là một bước tiến dài trong nhận thức.

Trong 60 năm hòa nhập cộng đồng, đồng bào Rục đã đánh dấu vào lịch sử của mình những bước ngoặt quan trọng. Lần thứ nhất là hành trình bước từ bóng tối ra ánh sáng. Ngày đó những người Công an vũ trang đã dẫn đồng bào từ hang sâu về với cộng đồng. Sau lần trở về đầu tiên này, đồng bào còn ra đi thêm ba lần nữa, một lần do chiến tranh, một lần do dịch bệnh và gần nhất là do lũ lụt. Nhưng cứ ra đi là cán bộ vận động quân chúng lại dẫn về. Thay vì cuộc sống du cư, sống trong hang hoặc lấy lá cây làm lán, khi lá chuyển vàng lại ra đi tìm nơi ở mới như xưa, đồng bào đã được các cấp chính quyền, Công an vũ trang sau này là Bộ đội biên phòng giúp đỡ định cư. Bây giờ, bản làng của đồng bào Rục đã sạch đẹp, ngăn nắp.

Hành trình bước từ bóng tối ra ánh sáng của đồng bào Rục là hành trình thay đổi tập quán sinh sống, chuyển từ du canh du cư sang sản xuất tập trung, từ bỏ lối sống săn bắt hái lượm, phát rừng làm nương rẫy sang trồng trọt và chăn nuôi tập trung, thay đổi công cụ kiếm sống từ súng, nỏ, dao rựa sang phương tiện sản xuất cuốc, cày, liềm hái.

cánh đông rục làn của đông bào rục- minh hóa.jpg -0
Cánh đồng Rục Làn của đồng bào Rục ở Minh Hóa.

Xác định văn hóa là chìa khóa mở ra cho đồng bào những cánh cửa mới, cán bộ Đồn biên phòng Cà Xèng đã tập trung tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức cho đồng bào. Trong đó đặc biệt chú trọng việc học văn hóa của con em dân bản. Tôi đã gặp năm đứa con nuôi của đồn. Em Cao Ngọc Huyên học lớp 9 hiện ở tại đồn. Sang năm học mới, em sẽ về thành phố học Trường Dân tộc nội trú của tỉnh. Trong tương lai, Đồn sẽ gửi đào tạo em trở thành chiến sỹ biên phòng để trở về tham gia bảo vệ biên giới quê hương.

Còn bốn cháu Hồ Xuân Chinh, Hồ Xuân Nhật, Cao Xuân Giang, Cao Xuân Lệ ở tại Tổ công tác cách đồn 3km. Tất cả đều có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Khi chúng tôi đến, bốn đứa đang đèo nhau đi trên xe đạp, mặt mũi đỏ nhừ, mồ hôi mồ kê túa ra như tắm nhưng miệng cười rõ tươi. Thượng tá Nguyễn Văn Lục nghiêm giọng hỏi "Các con đi đâu về?". "Dạ, các con đi hái ớt tặng bố Sử. Mai bố Sử về xuôi!".

Câu trả lời của bọn trẻ làm Thiếu tá Bùi Đức Sử cay mắt. Mai anh về hưu, sẽ kết thúc chặng đời binh nghiệp, món quà mang về là túi ớt rừng của những đứa con nuôi. Thấy lũ trẻ líu ríu như vừa bị bắt lỗi, thấy thiếu tá Sử tóc đã hai màu, đã trải qua biết bao gian nan vất vả nhưng vẫn luống cuống khi cầm trên tay túi ớt nhỏ các con vừa trao thấy đời dễ thương chi lạ.

Có cần gì đâu lễ lạc linh đình, có cần gì đâu quà sang cáp trọng, chỉ cần như bố con nhà lính biên phòng thôi mà cuộc chia tay đã lắng sâu xúc động, khó tả, khó quên. Mỗi đứa ôm bố Sử một cái rồi chạy vào phòng, thì thầm với nhau điều gì đó và rúc ríc cười, thỉnh thoảng lại nghiêng đầu nhìn ra ngoài xem thử bố Sử đã nổ máy xe đi chưa. Chúng nó chỉ yên tâm ra sau nhà làm những việc của mình khi bố Sử chào tạm biệt "Các con ở lại nhớ nghe lời các bố nhé. Học giỏi, ngoan ngoãn và giúp các bố việc nhà để các bố còn bảo vệ biên cương". Cả bọn dạ ran nhưng những đôi mắt mi cong ngập ngừng nước.

Không cần nhắc nhở, không cần phân công, mỗi đứa đều tự biết mình phải làm việc gì. Để có được nền nếp này, các ông bố biên phòng đã rất vất vả. Trẻ em dân bản quen tự do. Ngay trong lớp học vẫn có thể bế em theo cùng để mẹ đi làm rẫy, vẫn có thể ngủ nếu buồn ngủ và tự ý ra về nếu thấy cuồng cẳng cuồng chân. Chinh, Khoa, Nhật, Giang đều đã từng như thế, những đôi chân không quen đi dép, tù hì tù hà, lang thang leo trèo khắp nơi từ bản vào rừng, nóng thì xuống suối ngụp lặn, hứng chí thì lùa nhau chạy thục mạng trên đường nắng. Nhưng bây giờ thì tất cả đổi khác, đã lộ ra những gương mặt sáng. Tôi hỏi: "Mai sau các con sẽ làm gì nhỉ?". Cả mấy đứa đồng thanh "Dạ, các con làm bộ đội, làm công an như các bố!". Các con  chính là những hạt giống đỏ của bản đang được gieo ươm và chăm chút từ hôm nay.

Cà Xèng ngày tôi trở lại, sắc xanh biên cương biến ảo theo cơn nắng, cơn mưa. Trong điệp trùng biến ảo đó, tôi đã gặp một sắc xanh chung thủy. Sắc xanh tuần tra bảo vệ biên cương Tổ quốc. Sắc xanh làm ruộng trồng lúa nước với dân bản. Sắc xanh dạy học cho những mầm xanh của bản. Sắc xanh chữa bệnh cho Nhân dân... Không lung linh ảo diệu mà thân thuộc hiền hòa, gần gũi và tin cậy. Sắc xanh biên phòng! Các anh đang cùng dân bản giữ cho bình yên một vùng biên viễn.

Trương Thu Hiền

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).