Bích Câu – Hồn bướm mơ tiên

Phố Bích Câu (Đống Đa- Hà Nội) khá rộng nhưng chỉ dài chừng hơn 200 mét. Đây là một địa chỉ biểu tượng sống động cho vùng đất kinh kỳ cổ kính. Con phố nằm trong khu trung tâm phường Bích Câu xưa, một vùng đất rộng lớn nằm về phía Nam - Tây Nam của Hoàng thành Thăng Long. Mốc giới có thể tạm hình dung cánh cung Cửa Nam - Khâm Thiên quét từ Ô chợ Dừa theo Đê La Thành lên tới sông Hồng. Không gian nơi đây khác biệt với phường kẻ chợ 36 phố Hàng.

Liễu biếc đào hồng tiết tháng Ba

Có thể nói phường Bích Câu tựa vào quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám như một lá chắn. Quanh vùng xen kẽ có những dòng sông nhỏ, kênh rạch trôi tới các hồ lớn và đổ về sông Tô Lịch chảy qua kinh thành. Vậy nên tàu thuyền đi lại tấp nập. Điều kỳ thú tạo nên cảnh quan nơi đây bởi những con hồ và kênh nước trong vắt cùng những gò đất cao. Trên những khu đất rộng lớn bên hồ mọc lên hàng chục ngôi nhà vườn, biệt thự sang trọng của những ông hoàng, bà chúa.

Đặc biệt vào thời Lê -Trịnh hầu hết các quan lại và vương tôn công tử đều xây nhà đẹp tập trung ở phường Bích Câu. Miền đất này được gọi tên Bích Câu (ngòi biếc) bởi lẽ nơi đây có một con kênh dài chảy từ hồ Tây xuống Thủ Lệ. Sau đó dòng nước trong xanh ngọc bích này đổ về hồ Tảo Liên (bên cạnh Bích Câu Đạo Quán) chảy qua khu hồ Văn trước mặt Quốc Tử Giám rồi đi vào phố chợ. Con đường Cát Linh chính là dòng sông nhỏ kéo dài tới hồ Văn.

3-bích-câu-đạo-quán-đồi-diện-đấu-phố-bích-câu.jpg -0
Bích Câu Đạo Quán đối diện đầu phố Bích Câu.

Một trong những quan lớn của triều Lê (1740-1786) là Tham tụng (Tể tướng) Nguyễn Nghiễm (1708-1776), quê ở Tiên Điền - Nghi Xuân - Hà Tĩnh, đã xây khu nhà vườn ở Bích Câu. Đó chính là Dinh Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm. Khi ra sống ở Bích Câu ông đã cưới bà vợ thứ là Trần Thị Tần (quê Bắc Ninh) và đã sinh ra thi hào Nguyễn Du (1766-1820). Nguyễn Du là con thứ bảy theo thứ tự con của hai bà vợ đã mất của Nguyễn Nghiễm.

Dinh thự của Tiến sĩ Nguyễn Nghiễm là nơi hội tụ văn nhân tài tử trong kinh thành. Đặc biệt những danh sĩ một thời như Phan Huy Chú, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, Lê Hữu Trác luôn có mặt đàm đạo thơ văn và luận bàn về kinh thư, sử sách. Chính đây là cái nôi văn hóa Bích Câu đã nuôi dưỡng tâm hồn thi ca Nguyễn Du.

Cậu Chiêu Bảy (tức Nguyễn Du) ngày đó sáng dạ chăm chỉ học hành ngày đêm theo gương cha và anh cả là Tiến sĩ Nguyễn Khản (1734-1786). Cùng với nhóm Nguyễn Khản có rất nhiều danh sĩ trẻ đã trở thành bạn hữu với Nguyễn Du tại đây. Có thể kể đến Nguyễn Huy Tự (soạn ra cuốn Hoa Tiên). Văn bản "Đoạn trường Tân Thanh" cũng được Nguyễn Du biết tới từ đây.

Sau này đỗ đạt làm quan xa Nguyễn Du mới viết thành truyện thơ "Kim Vân Kiều" (khoảng 1805-1809). Có thể nói cảnh đẹp xuân tươi, bốn mùa hoa nở ở Bích Câu đã nhập vào hồn thơ Nguyễn Du khi viết "Truyện Kiều". Ta có thể bắt gặp những hình ảnh mang đậm sắc màu chính nơi nhà ông đã ở như: "Nao nao dòng nước uốn quanh/ Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh, bắc ngang", hoặc huyền diệu bên hồ nước trong xanh: "Long lanh đáy nước in trời/ Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng".

Chính vì sự bay bổng kỳ ảo nơi đây, phố Bích Câu xưa còn in lại dấu son mối hận tình của Nguyễn Du. Chuyện kể, mỗi khi đi học cậu Chiêu Bảy thường phải đi nhờ chuyến đò của một cô gái sang bên kia sông Nhị Hà. Cô gái có làn mi cong mơ màng cùng má lúm đồng tiền luôn cười tươi mỗi khi cậu Chiêu Bảy vẫy đò. Sóng mắt đưa tình như bủa lưới mây êm. Lúc vắng người, chuyến đò ngang chỉ có đôi tình nhân trao gửi thơ ca. Cô lái đò luôn thẹn thùng mỗi khi tay chạm tay má kề bên má. Con sóng tình cứ lênh đênh. Người người đợi chờ gọi hoài mà đò vẫn lững lờ trôi. Dòng nước biếc êm ru mà bầu trời mây bay tán loạn với nhịp tim khua sóng.

Ít lâu sau người anh cả Nguyễn Khản biết chuyện mắng cậu Bảy một trận vô hồi giận dữ. Bởi lẽ con quan tể tướng không thể lấy cô lái đò nghèo. Mối tình bị chấm dứt phũ phàng khi người lái đò khác đã thay cô gái. Cậu Chiêu Bảy ngậm ngùi than: "Yêu nhau những muốn gần nhau/ Bể sâu trăm trượng, tình sâu gấp mười/ Vì đâu cách trở đôi nơi/ Bến này còn đó, nào người năm xưa".

Mỹ nữ trong tranh

Cảnh đẹp xưa ở phường Bích Câu gợi tình với gò xanh, nước biếc, rừng cây. Chuyện xưa kể lại rằng trên gò cao đầu phố Bích Câu có một chàng thư sinh tìm đến dựng quán đọc sách làm thơ, tiêu dao thú rượu mây ngàn. Đây là gò Kim quy giữa hồ Tảo Liên nhìn về Quốc tử giám trường thi. Chàng tên là Tú Uyên con quan huyện nghèo họ Trần. Một hôm chàng cùng bạn đi dự hội chùa xuân bên Y miếu mấy dặm đò. Tình cờ khi đứng bên cây mẫu đơn chàng thấy có chiếc lá bàng rơi xuống. Trên lá có những dòng chữ đẹp như bức họa. Chàng nhặt lên đọc: "Liễu biếc đào hồng tiết tháng ba/ Xe loan hạ cánh của thiền gia/ Cầu Lam chật ních người như kiến/ Ai biết thần tiên trước mắt ta".

Ngay lúc đó có mấy cô gái chạy từ sân chùa tới vườn cây. Một cô gái má hồng đào, gương mặt trái xoan và mái tóc dài liếc mắt nhìn chàng như một tia chớp rồi bỏ đi. Tú Uyên ngơ ngẩn rảo chân bước theo bóng hồng. Đôi chân chàng líu ríu vấp lên vấp xuống. Chàng vượt qua cửa Nam theo gót hồng thấp thoáng phía trước. Bất ngờ khi tới khu đình Quảng Văn (Cửa Nam) thì chàng không thấy bóng người đẹp đâu nữa. 

1-phố-bích-câu-hiện-nay.jpg -0
Phố Bích Câu hiện nay.

Chàng ra về trong cơn sầu não nhớ nhung. Tú Uyên tương tư với sắc đẹp kiều diễm của người con gái môi hồng. Có lần nghe theo thần Bạch Mã lên chợ Cửa Đông chàng mua được bức tranh lụa vẽ cô gái giống như người đẹp trong mộng của mình. Tú Uyên treo tranh trước bàn sách rồi ngắm suốt ngày đêm. Một lần chàng đi học về thấy có mâm cơm để sẵn. Chàng lấy làm ngạc nhiên nhưng vẫn vui vẻ bày thêm bát ra mời người đẹp trong tranh cùng ăn. Thế rồi có lần chàng bồn chồn trong lòng bỗng nhớ tới người mình yêu vội vã về để ngắm tranh cho vơi phần rối loạn con tim. Không ngờ bức lụa trong veo, chàng thấy người đẹp đang dọn nhà.

Ôi! Người đẹp trong tranh của ta, Tú Uyên chạy tới ôm chầm lấy người yêu. Lúc này cô gái mới thú nhận mình là Giáng Kiều, một tiên nữ xuống trần. Do nợ tiền duyên với chàng nên đã tìm đến Bích Câu để gá nghĩa trọn tình. Từ đó Tú Uyên và Giáng Kiều sống trong hạnh phúc và sinh được con trai là Trần Nhi. Dân gian truyền tụng cả ba đều tu luyện đắc đạo thành tiên cưỡi hạc bay về trời. Trên ngôi gò Kim Quy này từ đời vua Lê Thánh Tông (1442-1479) người ta xây đền Bích Câu Đạo Quán (14 Cát Linh) để thờ tiên ông Tú Uyên. (Lễ hội chính 12 tháng Tám hàng năm).

Thăng Long Cầm giả ca

Bích Câu Đạo Quán giờ đây còn là địa chỉ văn hóa ca trù tiếp nối những bậc vương giả ở phường xưa. Nguyễn Du một thời thường tham gia với các anh trai tổ chức mời ca nương tới nhà hát. Người vang danh lúc đó là cô Cầm cũng đã được mời đến dinh Nguyễn Nễ (anh thứ của Nguyễn Du cùng mẹ Tần) ở phường Bích Câu biểu diễn. Nguyễn Du thực sự bị giọng hát cô Cầm quyến rũ. Cô vừa có giọng hát cao vút ngân rền bay bổng và vừa có ngón đàn thánh thót suối reo. Làm quan xa nhà, hai mươi năm sau Nguyễn Du được triều đình cử đi sứ Trung Hoa. Trong một bữa yến tiệc trước khi lên đường ở Thăng Long, ông ngờ ngợ khi nhìn thấy một ca nương gày gò trong tấm áo bạc màu. Chỉ khi tiếng đàn cất lên hòa cùng giọng hát chói chang quen thuộc Nguyễn Du mới nhận ra cô Cầm ngày nào bên hồ Giám.  

Trên đường đi sứ, Nguyễn Du trong lòng ám ảnh khôn nguôi về cô Cầm và bất ngờ viết bài thơ "Thăng Long cầm giả ca" (Bài ca người đánh đàn đất Long Thành). Lời thơ than khóc cho bạc phận má đào: "Khúc xưa từng tiếng bồi hồi/ Ta nghe tê tái, lệ rơi đáy lòng/ Chuyện xưa hai chục năm ròng/ Người đêm Hồ Giám tiệc tùng là đây". Hồn thơ Nguyễn Du luôn bay bổng trong tiếng đàn đáy ở Bích Câu Đạo Quán. Nếu ai đã từng đến đây nghe hát ắt hẳn sẽ không thể nào quên nỗi lòng thi nhân day dứt xót xa: "Trăm năm thấm thoắt trôi qua/ Thương tâm chuyện cũ lệ nhòa áo khăn/ Đầu ta bạc trắng ai bàn/ Trách gì người đẹp dung nhan héo sầu/ Mở trừng đôi mắt nhìn lâu/ Gặp nhau chẳng nhận được nhau, thật buồn!".

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).