Bí ẩn dưới lòng đất Nhẫm Dương

Tôi tìm về núi Nhẫm Dương (thị xã Kinh Môn) một di tích thuộc cụm di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh An Phụ, Kính Chủ. Nhẫm Dương được xếp hạng quần thể là di tích quốc gia đặc biệt lần đầu sau khi tình cờ đọc một số tài liệu khảo cổ học về nơi đây. Đường vào Nhẫm Dương có nhiều trái núi “mồ côi” nằm rải rác. Làng xóm mọc xen kẽ ở đó. Dãy núi Nhẫm Dương hiện ra kỳ vỹ có vách đá lô nhô dựng đứng. Ngôi chùa cổ Thánh Quang thanh tịnh náu mình dưới chân núi.

Chốn Tổ phái Tào Động

Trong những lần về chùa thăm sư Mơ, tôi đã vài lần ở ăn cơm cùng thầy. Trong bữa cơm chùa đạm bạc, hai chú khỉ cùng ngồi bên cạnh như hai đứa trẻ ăn cơm nắm nom thật dễ thương. Nếu không được sư Mơ cứu thì số phận chúng giờ đã trở thành món cao để bồi bổ sức khỏe cho người đời.

Qua nghiên cứu thấy quần thể khỉ vàng ở "khu đảo" huyện Kinh Môn xưa khá đa dạng, ít nhất có tới 3 loài khác nhau, trong đó có 2 loài có tên trong "Sách Đỏ Việt Nam". Cho đến nay, nhờ biết khỉ là động vật quý của địa phương, sư thầy Thích Diệu Mơ đã cố gắng vận động dân quanh vùng đưa các con còn sót lại về nuôi ở chùa Nhẫm Dương.

chua.jpg -0
Núi Nhẫm Dương có hàng chục hang động kỳ thú: Động Thánh Hóa, động Tĩnh Niệm, hang Chiêng, hang Trống, hang Tối...

Nhưng có lẽ, ít người biết, chùa Nhẫm Dương là chốn Tổ của Thiền phái Tào Động, một tông phái thiền của Phật giáo Đại thừa được thiền sư Thủy Nguyệt du nhập giữa thế kỷ 17, góp phần quan trọng truyền bá giáo lý nhà Phật trong lịch sử.

Giới thiệu về sự ra đời Thiền phái Tào Động Việt Nam, sư thầy Thích Diệu Mơ dẫn chúng tôi ra ngôi tháp sau chùa cho biết: Đây chính tháp mộ Đức Thiền sư Thủy Nguyệt, Tổ thiền phái Tào Động Việt Nam. Chùa Nhẫm Dương chính là chốn Tổ của thiền phái.

Hòa thượng Thuỷ Nguyệt sinh năm 1637, quê ở đạo Sơn Nam (Thái Bình ngày nay). Năm 20 tuổi, ông xuất gia. Sau nhiều năm vẫn chưa tìm được chân lý giải thoát bèn xin sư phụ đi tham thiền học đạo các nơi. Năm 28 tuổi, nhân duyên đưa đẩy, Thủy Nguyệt hành hương sang phương Bắc đến Động Sơn Lương Giới (dạng chùa hang) trên núi Phượng Hoàng và trở thành đệ tử của Hòa thượng Trí Giáo Nhất Cú, Tổ đời thứ 35 của Tào Động. Trải qua 3 năm học đạo, thiền sư Thủy Nguyệt thành chính pháp, được ban pháp hiệu Thông Giác Đạo Nam Thiền Sư và cho về An Nam để truyền pháp. Tính theo hệ phái, thiền sư Thủy Nguyệt là Tổ đời thứ 36 của Thiền phái Tào Động Trung Hoa và là Đệ nhất Tổ thiền phái Tào Động Việt Nam.

Năm 1667, thiền sư Thủy Nguyệt về nước và đi các nơi như chùa Côn Sơn, Quỳnh Lâm, Yên Tử, Hòe Nhai (Hồng Phúc tự) ở Hà Nội thuyết pháp, phổ độ chúng sinh… Sau thiền sư về trụ trì chùa Nhẫm Dương. Với chân lý giản dị nghiêng về tu thiền, giải thoát nên Thiền phái Tào Động nhanh chóng thâm nhập vào mọi tầng lớp dân chúng. Ngài được vua Lê sắc phong: “Đại thánh Đông Sơn Tuệ Nhẫn Tứ Giác Quốc Sư”. Đến năm 1704, thiền sư Thủy Nguyệt viên tịch, các đệ tử tiếp tục sự nghiệp truyền pháp, đưa Tào Động trở thành môn phái nổi tiếng.

Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thiền phái Tào Động đã góp phần quan trọng chấn hưng Phật pháp. Dẫn chúng tôi thăm ngôi tháp đá khác trên quả đồi trước cổng chùa, sư Mơ cho biết, đó là tháp mộ Tổ thứ hai Tông Diễn. Nếu Tổ Thủy Nguyệt có công truyền bá Phật pháp, được sắc phong Quốc sư thì nhị Tổ Tông Diễn đã giúp Phật giáo Việt Nam tránh thời kỳ mạt pháp.

Tông Diễn hiệu Chân Dung là đệ tử được Thủy Nguyệt trao truyền tâm ấn của phái Tào Động. Thời vua Lê Hy Tông, Phật giáo không còn được đứng ở vị trí quốc giáo vì cho rằng không có lợi gì cho xã hội. Đỉnh điểm năm Vĩnh Trị (1678), vua Lê Hy Tông ra sắc lệnh đuổi hết các sư sãi lên rừng, ai không đi sẽ bị trừng trị. Hòa Thượng Tông Diễn biết được tin này rất đau lòng. Ngài xin phép thiền sư Thủy Nguyệt rời chốn sơn dã về đất kinh thành mong cảnh tỉnh nhà vua cứu vãn Phật pháp.

Đến kinh đô, không được tiếp kiến vua, hòa thượng Tông Diễn bèn viết một tờ biểu nói rõ việc tu hành, cách thức làm yên nhà lợi nước như đạo Phật là hòn ngọc quý soi sáng mười phương, phá dẹp mọi mây mờ u tối rồi để trong cái hộp nói rằng có viên ngọc quý muốn dâng tặng. Vua Hy Tông đọc biểu mới bừng tỉnh, cho vời hòa thượng Tông Diễn vào trò chuyện.

Sau khi nghe hòa thượng thuyết pháp, bèn rút lại sắc lệnh, hết sức sửa mình, đề nghị với hòa thượng Tông Diễn làm một bức tượng mà trong đó, vua phủ phục dưới Phật, để thể hiện sự sám hối. Bức tượng độc đáo nhất của văn hóa Phật giáo Việt Nam này hiện còn ở chùa Hoè Nhai (Hà Nội). Hiện nhà Tổ chùa Nhẫm Dương, cũng có một bức tượng lấy mẫu theo bức tượng tại chùa Hòe Nhai.

Mỗi thớ đất đều có hóa thạch và di vật

Nhưng nói đến Nhẫm Dương phải nói đến những di chỉ khảo cổ học quý giá không chỉ của quốc gia mà của cả thế giới. Mọi chuyện tình cờ từ việc nhà chùa khai quật động tìm tượng. Lúc yếu, sư trụ trì đời trước bảo: Thời Pháp, lo chùa bị đốt phá, mọi người đã đào hang giấu tượng. Khi nào xây chùa phải đào lấy tượng lên thờ. Theo di nguyện, năm 2000, sư Mơ mượn người đào hang tìm tượng. Kết quả, tìm thấy 7 pho tượng đá cùng rất nhiều xương hóa thạch.

Ông Nguyễn Trung Cương, người từng tham gia đợt đào hang năm xưa kể: “7 người, trong đó có tôi tiến hành đào ròng rã mấy tháng liền. Đất đá trong hang nom mềm nhưng khi đào lại vô cùng khó khăn, có lúc tưởng bỏ dở. Khi đào, phát hiện xương, răng hóa thạch liền báo với sư Mơ”. Mọi người, kể cả sư Mơ chưa biết mình phát hiện ra những di vật khảo cổ quan trọng. Sư Mơ kể: “Lúc đầu tôi bảo mọi người tiếp tục làm và cho gom riêng xương một góc. Đến lúc số xương đào được ngày một nhiều, có lẫn cả xương người, tôi gọi điện cho nhà sử học Tăng Bá Hoành”.

Nhà sử học Tăng Bá Hoành đã cùng Phó giáo sư Nguyễn Lân Cường có mặt và tiến hành nghiên cứu kỹ đất đá mang từ trong động ra. Quá trình phân loại phát hiện thấy rất nhiều xương động vật đang trong quá trình hóa thạch: xương voi, tê giác (là thứ hiếm tìm được ở Việt Nam), xương khỉ, lợn rừng, đặc biệt xương vượn người...; tổng cộng 17 loài động vật thuộc Kỷ Đệ tứ, cách chúng ta 3-5 vạn năm. Ngoài ra còn phát hiện rất nhiều xương người hiện đại, trong đó có những xương dính vào thành động đã bị thạch nhũ bám kín. Theo ông Tăng Bá Hoành, những xương người này chưa xác định được niên đại song căn cứ vào thạch nhũ bám khẳng định thuộc về thời kỳ tiền sử cách chúng ta hàng vạn năm.

Tò mò, tôi đề nghị sư Mơ dẫn lên động Thánh Hóa. Trên đường đi, cúi nhặt một vật màu trắng đưa cho tôi xem, sư Mơ bảo: Răng hóa thạch đấy, răng lợn rừng. Chiếc răng hóa thạch to độ ngón tay, bóng láng, chân răng kết đá màu trắng. Tôi hỏi sao biết răng lợn rừng, sư đáp: Quan sát Phó Giáo sư Lân Cường và bác Hoành phân loại các loại răng, xương hóa thạch rồi biết. Theo sư Mơ, không chỉ trong động Thánh Hóa mới có xương, răng hóa thạch mà quanh vườn chùa chỗ nào cũng có. Cứ sau mỗi trận mưa rào là chúng lại trồi lên, ra vườn có thể nhặt được cả vốc. Đã 10 năm nay, mỗi lần ra vườn thấy xương, răng hóa thạch, sư Mơ lại nhặt gom cất đi.

Động Thánh Hóa nằm ngay phía sau vườn chùa, ăn sâu vào lòng núi. Động là nơi đức Tổ Thủy Nguyệt phái Tào Động tu hành đắc đạo và hóa. Lòng động ăn xuống phía dưới nguyên vẹn dấu tích của cuộc khai quật tìm tượng năm nào. Bên trong động khá tối. Để vào phải bám tay vào vách lần từng bước. Trên trần hang lũ dơi núi treo nhũng nhẵng, kêu chin chít. Dừng lại trước một hủng hang rộng, sư Mơ bảo: “Đây chính là chỗ đã phát hiện gần chục bộ di cốt người. Ngoài những di cốt được Phó giáo sư Lân Cường lấy đi nghiên cứu còn lại nhà chùa mang đi chôn cất”.

Cũng theo sư Mơ, trong quá trình đào, hai bên thành hang, xương hóa thạch cắm chi chít. Để tiếp tục công việc, nhà chùa phải cho thợ dùng xà beng tẩy đi. “Hồi đó nếu tôi có chút kiến thức về khảo cổ học chắc sẽ giữ lại được nhiều hiện vật quý, giá trị”, sư Mơ tiếc rẻ. Một số đoạn vách hang vẫn còn nguyên các dấu xương hóa thạch. Dùng đèn pin soi lát sau tôi đã tìm thấy mấy ống xương hóa thạch trắng trên vách hang.

Không chỉ có giá trị về mặt khảo cổ, Nhẫm Dương và chùa Thánh Quang còn là những thắng tích hiếm gặp. Núi Nhẫm Dương có hàng chục hang động kỳ thú: Động Thánh Hóa, động Tĩnh Niệm, hang Chiêng, hang Trống, hang Tối...

Cuối năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định xếp hạng quần thể di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh An Phụ, Kính Chủ, Nhẫm Dương là di tích quốc gia đặc biệt.

Với sự quyết tâm bảo vệ quần thể di tích của các cấp chính quyền ngành văn hóa và nhà chùa núi Nhẫm Dương đã bình yên. Và tôi tin, với các giá trị lịch sử văn hóa, khảo cổ, Phật giáo cùng cảnh đẹp độc đáo, quần thể di tích Nhẫm Dương, tôi tin một ngày kia, Nhẫm Dương sẽ trở thành điểm du lịch tâm linh hấp dẫn không chỉ của tỉnh Hải Dương mà còn của cả nước.

Đinh Ngọc Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).