Bếp lửa tỏa sáng văn hóa nhân loại!

Chỉ từ khi tìm ra điện, ra dầu lửa, khí gas con người mới sử dụng bếp dầu, bếp điện, bếp gas, gần đây là bếp từ. Còn trước đó thì gắn bó với nhân loại hàng vạn năm là bếp lửa (bếp lò) đến mức nó trở thành biểu tượng văn hoá mang tính phổ quát.

Dân tộc nào cũng có sự tích bếp lửa, theo thời gian các lớp mã cứ dày lên, đến mức ở ngày hôm nay có cố bóc các lớp ấy thì cũng khó tìm ra cái lõi nguyên thuỷ. Nhưng trong quá trình tìm về cổ xưa người ta luôn bắt gặp các quan niệm, suy nghĩ, cách thức sống của các lớp người đi trước chung quanh mã bếp lửa này.

Theo thần thoại Hy Lạp thì sau khi thâu tóm quyền lực, thần Zớt phân công nữ thần Hestia cai quản bếp lửa của nhân loại. Không chỉ Việt Nam ta mới có câu "Đàn ông cái nhà đàn bà cái bếp", mà từ tận huyền thoại xa xưa con người đã khôn ngoan trao cho phụ nữ cái thiên chức nấu ăn và giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Cái bếp của Hestia ra đời thì chế độ quần hôn chấm dứt và nhân loại văn minh bắt đầu bước vào giai đoạn một vợ một chồng. Thế là khởi nguyên cái bếp đã mang biểu tượng của sự văn minh và hạnh phúc. Trước đó chưa có bếp lửa thì con người chủ yếu ăn sống, từ ăn sống sang ăn chín là một bước tiến bộ nhảy vọt. Mô hình gia đình một vợ một chồng và con cái là thành tựu vĩ đại của nhân loại.

Bếp lửa của người Tày.
Bếp lửa của người Tày.

Nữ thần Hestia rất đẹp và duyên dáng. Đã thế thần lại hay thẹn đỏ cả mặt (nhưng chắc là vì suốt ngày ngồi gần lửa, chứ là thần thì phải thẹn với ai!). Thế nên sau này con cháu của thần ở các nước xứ lạnh thường tỏ tình bên bếp lửa bập bùng, vừa cho ấm áp vừa để đổ vấy cái thẹn của mình cho lửa.

Nữ thần Hestia còn rất thông minh. Nàng đến thăm bếp nhà ai hoặc bếp của bộ tộc nào đó là thần đoán được ngay tính cách cũng như tiên đoán số phận của họ. Giả sử thấy bếp nhà ai có mùi thơm của thịt bốc lên là thần phán rất đúng là con người ở đó mạnh mẽ, kiên cường hợp với nghề đi săn hoặc đi biển. Thấy bếp nhà ai ngào ngạt mùi rau luộc rau xào thì thần biết con người ở đó sống thiên về tình cảm, hay xúc động, quan hệ mềm mỏng, hợp với nghề trồng cấy, may vá…

Dưới góc nhìn khoa học nhân loại hôm nay kinh ngạc tại sao nữ thần Hestia lại nói chính xác như vậy. Vì khoa dinh dưỡng học mới giải thích được người ăn thịt nhiều thì tích nhiều đạm dẫn đến tính khí ưa hoạt động, mạnh mẽ, trí tuệ. Có bộ tộc vì quanh năm ăn thịt mà trở nên hiếu chiến…Nhờ được thêm nhiều vitamin C cần thiết nên người ăn nhiều rau có cơ thể hài hoà, mềm mại, tính khí hoà nhã, mềm mỏng…

Trong từ vựng Hy Lạp cổ, từ "Hestia" chỉ "cái bếp" gần gũi với khái niệm "Omfalos" nghĩa "cái rốn" vì cả hai đều ở trung tâm. Cặp khái niệm Hestia-Omfalos được ví như cái cửa có hai cánh mở ra đi sâu tìm hiểu thế giới văn hoá tín ngưỡng Hy Lạp. Hiểu cặp khái niệm này mới có thể hiểu tín điều tôn giáo, quan niệm về quan hệ trời-đất, vũ trụ-con người…

Trong Bộ kinh Vệ Đà của văn hoá Ấn Độ thì Thần lửa Agni được coi là trung gian, nơi giao tiếp giữa con người và thần linh. Thần Agni luôn mang sắc vàng đỏ, có hai đầu, bảy lưỡi là người chủ lễ trong mọi lễ cưới và lễ tang. Ngày cưới, cô dâu chú rể phải đi bảy vòng xung quanh bếp lò để Thần chứng giám và ban phước cho đôi vợ chồng trẻ hoà thuận, ấm áp, nóng bỏng bên nhau suốt đời. Khi gia đình có người khuất núi cũng mời Thần đến để Thần tiễn người chết về thế giới an lạc, vĩnh hằng. Sau đó người nhà đem đi hoả táng trong sự trong sáng, tinh khiết vô trùng của Lửa.

 Như vậy cái bếp không chỉ biểu hiện tính cách con người mà còn là quan niệm về cả một thế giới!

 Đấy mới là những lớp nghĩa nguyên thuỷ, đầu tiên.

 Từ xa xưa, ở đâu cũng vậy, vai trò bếp lửa được khẳng định, không thể thiếu trong bất cứ ngôi nhà nào. Thế là tự nhiên bếp lửa trở thành thiêng liêng được mọi thành viên thành kính, tôn thờ, ngưỡng vọng…Cũng thật tự nhiên bếp lửa thành nơi con người gửi gắm, ký thác niềm tin. Nhiều bộ tộc vùng Xi-bê-ri thông qua bếp lửa cầu xin thần thánh điều mình ao ước.

Người Maia cổ còn nhìn thấy trong ánh lửa nồng đượm của nhà mình có cả hình bóng tổ tiên. Thế nên họ coi nếu để tắt lửa ở bếp là không được tổ tiên chăm sóc, dạy bảo, phù hộ, độ trì… Điều này không riêng của người Maia, mà ở khắp châu Á, những tộc người sống trên vùng núi cao cũng luôn giữ lửa cháy trong bếp.

Cho đến tận hôm nay, dù đã vào thời kỳ công nghiệp hiện đại 4.0 thì ở phương Tây xứ lạnh, các gia đình (ở nông thôn) vẫn có cái bếp lò đặt ở giữa nhà, vừa để nấu ăn vừa làm lò sưởi. Người Pháp có khái niệm "Foyer" đa nghĩa, vừa nghĩa là bếp lò, lò sưởi vừa nghĩa trung tâm, chính giữa, cũng có nghĩa quê hương.

Bếp của người Tày, Thái, Nùng… (Việt Nam) có lửa suốt ngày đêm, ngay cả lúc không đun nấu. Trong bếp luôn có một gộc củi luôn đỏ hồng. Vừa là cách giữ ấm nhưng cái chính là quan niệm có lửa để xua đuổi ma quỷ, thú dữ; thể hiện sự ấm no, đầy đủ và sự quý người. Trời giá rét, khách đến hơ tay vào lửa sẽ thấy hạnh phúc hẳn lên. Trong phong tục người Thái thì bếp lửa là nơi trai gái hò hẹn, trao duyên… "Đến ngày gặp chốn sàn hoa/ Ngồi bên bếp lửa mặn mà trao duyên" ("Tiễn dặn người yêu").

Thần lửa Agni trong văn hoá Ấn Độ.
Thần lửa Agni trong văn hoá Ấn Độ.

Người Việt có truyện cổ tích "Ba ông đầu rau" đậm triết lý nhân sinh. Ngày ba vợ chồng nhà nọ chết (23 tháng Chạp) nên đó cũng là ngày cúng ông Công ông Táo. Họ chết nhưng hình tượng ngọn lửa giữa họ luôn bùng cháy toả ánh sáng, toả nhiệt năng sẽ không bao giờ chết. Được cháy trong sự bao bọc của ba ông đầu rau đặt trong không gian bếp ấm cúng ngọn lửa ấy càng  mạnh mẽ, nồng nàn hơn.

Đó không còn là ngọn lửa thông thường mà là ngọn lửa của sự sống, lửa của tình nghĩa. Lửa còn thì nhân loại còn. Tình nghĩa con người với con người không bao giờ mất đi nên nhân loại vẫn trường tồn mãi mãi. Đây là một triết lý đẹp xứng đáng đứng cùng những triết lý văn hoá hay nhất của nhân loại. Mỗi cổ tích luôn là một mã văn hoá nên muốn hiểu sâu hơn phải bóc dần những lớp mã để tìm cái lõi ngọc quý giá.

Cũng có thể ví cổ tích như vùng đất nguyên thuỷ mà chung quanh nó có nhiều cây huyền thoại cùng ngả bóng nên phải gạt dần những lớp bóng ấy ra để tìm tòi. Truyện còn là một triết lý về cách sống. Với người Việt sống cùng cây lúa trong vùng văn minh lúa nước thì đất để canh tác là tối quan trọng. Và phải có nhà để ở. Phải có người phụ nữ quán xuyến nhà cửa. Nên ba vợ chồng họ chính là ba đại diện cho đất đai (thần Đất cũng là thần Bếp), nhà cửa và người phụ nữ, tạo thành bộ tam tài, lấy quẻ Li làm biểu tượng. Quẻ này gồm hai hào dương (hai chồng) một hào âm (một vợ). Trong Bát quái, quẻ này là lửa, nằm ở phương Đông, phía trái. Điều này lý giải tập quán người Việt thường thờ Thổ công gian phía trái.

Truyện còn mang tinh thần dân chủ rất quý từ hình tượng ba ông đầu rau luôn bằng nhau, đứng cân xứng nhau vững vàng, không xô lệch như để chứng minh quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận của họ (chồng, vợ) là như nhau, bình đẳng, chồng cũng như vợ, vợ cũng như chồng, không ai hơn kém ai. Ba vợ chồng họ vì nhau mà chết. Cái chết đã làm cho họ mãi mãi bên nhau. Đó là bi kịch nhưng là "bi kịch lạc quan". Họ chết để cùng toả sáng trong hiện thân ánh lửa rực rỡ. Họ chết nhưng gieo sức mạnh niềm tin vào con người, vào tình người bất tử cho hàng vạn, hàng triệu đời sau.

Trước nay cảm hứng của nhân loại về lửa chưa bao giờ vơi cạn. Với người Việt, bếp lửa là biểu tượng cho gia đình đầm ấm, sum vầy, bền vững, đoàn kết. Biểu tượng này chính là cái lõi văn hoá của truyện. Biểu tượng ấy trở thành "mẫu gốc" sản sinh ra biết bao những "bếp lửa" mới "ấp iu, nồng đượm" (Bằng Việt) làm sáng lên nhân cách Việt giàu yêu thương, ân nghĩa, trách nhiệm, vị tha.

Ở cả phương Đông và phương Tây, vị trí bếp lửa (ống khói) thường ở trung tâm. Khi nấu nướng khói từ giữa nhà bay lên như hình cây xanh vươn cành lá lên trời cao. Vì lẽ này mà Triết học sinh thái hiện đại giải thích mỗi ngôi nhà chính là biểu tượng của "Cây vũ trụ" cắm sâu gốc rễ vào đất, còn cành lá thì nối vào trời. Con người từ thời kỳ mông muội bước vào "nhà" tức là bước vào thời kỳ văn minh. Thế nên, không phải thời hiện đại bây giờ, mà từ cổ xưa đã có quan niệm vào nhà ai là biết người đó "văn minh" hay không!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).