Bên mùa Lục bát của một cõi chữ

Hào sảng mà thong dong là diện mạo của thi sĩ Trần Đăng Thao khảm vào cuộc sống này. Quê ông ở Hà Nam, lại là dân chữ nghĩa, nên cái chất khí tiết, hàn lâm mà gần gũi, dân dã, hóm hỉnh của cụ Tam Nguyên đã ngấm vào bản khí nơi ông.

1. Nói đến Trần Đăng Thao là giới văn chương nhớ đến một vị tiến sĩ văn chương thông kim bác cổ, từng là Tổng biên tập Báo Giáo Dục và Thời đại suốt mười năm đằng đẵng! Rất khó để có thể định danh đầy đủ về ông, bởi trên cương vị nhà văn, nhà báo, nhà giáo, dịch giả hay một người quản lý, lĩnh vực nào ông cũng có những thành công ấn tượng.

Bên mùa Lục bát của một cõi chữ -1
Tiến sĩ văn học Trần Đăng Thao.

Nhà thơ Trần Đăng Thao tuổi Kỷ Sửu - 1949. Ngoài những đầu sách nổi bật ở lĩnh vực sáng tác, phê bình văn học, ông còn là dịch giả Hoa ngữ và Nga ngữ, là người đã dịch tới 25 đầu sách. Trong đó có bộ "Thông sử thế giới vạn năm" hai tập (3 quyển), (xuất bản năm 2004) dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt.

Hào sảng mà thong dong là diện mạo của thi sĩ Trần Đăng Thao khảm vào cuộc sống này. Quê ông ở Hà Nam, lại là dân chữ nghĩa, nên cái chất khí tiết, hàn lâm mà gần gũi, dân dã, hóm hỉnh của cụ Tam Nguyên đã ngấm vào bản khí nơi ông. Dựng nghiệp văn chương bằng tài năng và sự đốn ngộ trong nhiều lĩnh vực, riêng với thơ ông đã xuất bản 10 tác phẩm. Tổng số các ấn phẩm mà ông đứng tên xuất bản đã là hơn 60 đầu sách. Số lượng đầu sách ông xuất bản đã dài hơn cả một vòng hoa giáp của đất trời. Chỉ riêng điều ấy đã nói lên cái uy tín và vị thế của ông trong nền văn học Việt Nam hôm nay.

Trong khoảng trời thơ của Trần Đăng Thao, người ta nhận ra một góc riêng, ở đấy, thơ ông chạm đến cái tinh túy văn hóa của nhiều miền đất. Và với ông, những nét tinh túy ấy là nguồn mạch để khởi phát nên những gương mặt văn nhân chí sĩ. Mạch thơ ấy rất đặc trưng, bởi cho đến bây giờ, trong giới văn chương vẫn chưa mấy ai có đủ cảm xúc và sự thấu hiểu văn hóa vùng miền để viết một cách say mê và có hệ thống như thế về những kẻ sĩ thời nay. Ngẫm ra, thơ ăn nhau ở cái độc đáo và trí tuệ, ở cái tư tưởng mà nguồn thơ ấy dựng lên thành hệ thống riêng của người viết, ở cái đích mà những trang thơ ấy hướng đến, chứ đâu nệ vào sự sành sỏi hay biến ảo của ngôn từ!

2. Trong cõi chữ của thi sĩ Trần Đăng Thao gần đây, sau tập thơ "Mùa chim lạc bay về", giờ lập thêm một cung chữ thuần lục bát, ấy là tập thơ "Độc hành". Thi phẩm này được thiết đặt bởi hình thức thơ tương đối lạ, cái lạ ấy đã góp phần tạo nên những nét mới cho thơ lục bát Việt Nam, và cũng là cách để nhà thơ mở rộng sức chở, sức tải cho câu chữ thơ của mình. Những cung lục bát được nhà thơ nhấn nhá, ngắt nghỉ tách dòng đã tạo ra một hệ ngôn ngữ thơ khác lạ trong "Độc hành".

Thử nhấn nhá một cung thơ ngắt dòng trong vườn khế quê mùa: "Tay trong tay/ Mắt trong tay/ Mở lòng/ Nâng chén/ Rót!/ Đầy/ Gió/ Trăng" (Viết bên vườn khế). Cách thiết lập nhịp mạch cho lục bát theo kiểu vắt dòng thế này, nhiều người đã làm, tuy nhiên từ cái nhịp độ ngắt nghỉ ấy khiến cho câu thơ vừa khác lạ vừa đa diện, đa chiều hơn mới là cái đích đến của sáng tạo nghệ thuật. Đó mới có thể được xem là những thành công trong sự làm mới và mở rộng biên độ cho một thể thức thi ca: "Hà Nam/ Đất chật/ Nêm người/ Ngàn năm/ Đạp đất/ Đội trời/ Ngàn năm!/ Nghìn xưa/ Mảnh đất dâu tằm/ Muốn ăn cơm đứng/ Về thăm vườn Bùi" (Chiều sông Châu).

Bên mùa Lục bát của một cõi chữ -0
Tác phẩm "Độc hành" của nhà thơ Trần Đăng Thao.

Trải khắp những trang thơ "Độc hành" là những câu lục bát cứ tự nhiên kết thành chùm đôi, chùm ba, chùm tư như thế, thong thả rơi xuống từ cõi chữ của một thi nhân: "Khói hương/ Lặng lẽ/ Lên trời/ Đường xa thăm thẳm/ Cõi người/ Bể dâu/ Con về/ Chẳng thấy mẹ đâu/ Ngoài sân/ Chỉ một giàn trầu/ Mồ côi!" (Nhà xưa). Như đã luận ở trên, việc ngắt nhịp, ngắt dòng là một thủ pháp trong thơ lục bát, người giỏi dụng pháp ấy, thì ý thơ đầy hơn, gợi hơn, sức mở, sức tải của câu chữ được nâng cấp nhiều lần so với cái mạch 14 chữ của thơ lục bát cổ tích.

Đây, vẫn những dòng thơ về mẹ, được thi sĩ Trần Đăng Thao ngắt dòng, ngắt nhịp, để khi đọc thơ mà tưởng những đơn vị chữ của bài thơ kia đang lặng lẽ rơi xuống từ đôi khóe mắt chiều: "Mẹ ta,/ Ra chợ lâu rồi/ Phong phanh áo bạc/ Một đời gió sương/ Một đời tần tảo, nhịn nhường/ Ổ rơm mẹ trải/ Vương hương đến giờ/ Mùi na, thơm đến sững sờ/ Tưởng hương xứ Lạng/ Tuổi thơ Kỳ Cùng/ Chợ phiên năm ấy còn đông/ Ta đi…/ Giữa những/ Mênh mông… Áo chàm!" (Nhà xưa).

Trần Đăng Thao đi - đọc - yêu và sống qua những địa tầng văn hóa, thơ ông khởi phát và kết tinh qua những yếu tố ấy! Thơ muôn đời đứng về phe nước mắt, nên thơ dễ nhập vào nỗi đau hơn là vào niềm vui. Điểm nhìn của thơ thường ở cái phần khuyết, phần mất mát của nhân gian và thế cuộc. Nhưng để có được điểm nhìn và cách nhìn ấy, lại phải dựa vào trí tuệ: "Cái ngày vừa tắt binh đao/ Nhìn ra khăn trắng/ Trên bao mái đầu" (Kính thầy). Câu thơ lục bát ngỡ viết dễ đến mức không tưởng, nhưng nó độc đáo bởi nó là sự tổng hợp của mọi cuộc chiến. Khi kết thúc chiến tranh, cái dải khăn trắng thắt chặt trên mái đầu của một dân tộc vừa bước ra khỏi cuộc chiến kia mới ám ảnh, mới nhói thức làm sao dưới một rừng sắc đỏ khải hoàn!

Thơ Trần Đăng Thao đa phần được cấu thành từ những câu chữ dung dị, nhưng tất cả đều là mật ngôn. Xem cái cách ông hào sảng khắc về quê hương đồng chiêm của ông, ngỡ chỉ là những con chữ của bút pháp tự sự, nhưng phải tinh ý mới thấy được những mật ý mà ông gửi trong ấy: "Anh cầm lên một tiếng ve/ Nghe tim nức nở/ Tiếng hè/ Hỡi em/ Quê mình là đất đồng chiêm/ Ngàn năm tuấn kiệt/ Làm nên đất này" (Trường xa). Người ta thường nói, nơi nào có núi cao, sông lớn, thì nơi ấy mới sinh kỳ nhân, dị bảo, ấy thế mà quê hương ông chỉ với chiêm khê mùa thối, vậy mà hun đúc nên bao bậc tuấn kiệt, danh tiếng vọng vang bốn cõi. Mới hay cái mạch phong thủy ngầm chảy trong lòng người, lòng đất mới dễ khởi phát nên những điều vĩ đại.

Thi sĩ Trần Đăng Thao là một nhà thư pháp, là tiến sĩ thuộc chuyên ngành nghiên cứu và giảng dạy văn học, là một dịch giả uy tín về tiếng Hán và tiếng Nga, thì hiển nhiên, thơ ông phải được định hình và nhận diện là sản phẩm của trí tuệ, hay của một cõi chữ! Đọc ấn phẩm "Độc hành", đặc biệt ấn tượng với những bài thơ ông viết về kẻ sĩ ở các vùng miền, bởi với ông, văn nhân, chí sĩ là người tài, mà người tài thì phải là linh khí của trời đất sinh ra: "Đại Hoàng/ Dệt sợi/ Ươm tơ/ Bãi bồi dâu ngự/ Nhởn nhơ thành rừng/ Nhà xưa, cụ Bá lẫy lừng/ Bây giờ Bá Kiến/ Ở trong diện nghèo/ Sông Châu vẫn tím hoa bèo/ Bến xưa, vườn chuối/ Nắng chiều mang mang/ Chí Phèo vừa mới tạt ngang/ Xách chai quốc lủi/ Mà sang với tình!" (Về Đại Hoàng).

Ấy là nếp đất, nền người làng Đại Hoàng, nơi đã xuất sinh một ngôi tháp văn chương mang tên Nam Cao lừng lững, còn đây là những câu thơ đặc tả về cái ngõ trúc, nơi đã sinh ra một ngôi Tam Nguyên độc nhất dưới trời Nam: "Ao thu/ Sóng biếc/ Trong ngần/ Trăm năm dâu bể/ Bao lần đổi thay/…/…/ Ngõ này là ngõ Tam Nguyên/ Nẻo xuôi Cầu Họ/ Ngược lên Thượng Và/ Con ngồi dưới bóng chiều tà/ Đọc thơ thu/ Vọng người xa/ Cạn ngày…!" (Ngõ trúc).

Với văn nhân, chí sĩ. Trần Đăng Thao đặt họ thành chủ thể sáng tác, đặt họ vào những địa mạch văn hóa của vùng đất và con người nơi họ được sinh ra. Từ đó, ông khai thác và tôn vinh cái độc đáo, cái khí chất, cái tài năng của họ bằng ngôn ngữ thơ mình. Xin hãy đọc mấy câu thơ ông tặng Nhà sử học Trương Đình Tưởng ở non nước Ninh Bình: "Đầu non, một mảnh trăng ngà/ Hỏi con chim phượng/ Làm nhà nơi nao/ Cúc Phương/ Tam Điệp/ Đồng Giao/ Thái Vi u tịch/ Rượu đào Kim Sơn/ Thuyền ai thấp thoáng Hang Luồn/ Có qua Tam Cốc/ Lên nguồn Thiên Thai/ Nghìn năm, tiên nữ là ai/ Người đi/ Lòng vẫn nhớ hoài/ Trường Yên!" (Hương quê).

3. Trần Đăng Thao một cây bút hàn lâm mà lãng tử, nghiêm cẩn mà dung dị! Viết về một văn nhân như ông là điều không dễ, nếu chỉ nhìn từ ấn phẩm lục bát vắt dòng "Độc hành" này mà quán chiếu về phong cách thơ ông thì chắc chắn đó là một sự khiên cưỡng. Bài viết này chỉ là một góc mở, tương tác và chia sẻ đôi chút về một văn nhân của nền văn học Việt Nam đương đại, cùng những trang thơ lục bát thong dong, dung dị, nhưng đầy lay gợi, được sinh ra từ cõi chữ của ông!

Thời thế thì hợp tan, bể dâu, chìm nổi, vô thường, ấy là lẽ Đời, còn văn chương, thuộc về Đạo, thuộc về lẽ Trời thì bất biến. Mấy dòng nhỏ chia sẻ cùng cõi người, cõi văn bên những câu thơ được sinh ra từ sự bất biến của thi nhân Trần Đăng Thao xin neo lại đôi dòng!

Hà Nội, 5/2024

Nguyễn Thế Kiên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).