Bay về rằm tháng bảy

Dân gian có câu “Tết cả năm không bằng rằm tháng bảy”, cho nên dù ai đi ngược, về xuôi với bao bộn bề, tất bật mưu sinh vì miếng cơm, manh áo cũng đều trở về với gia đình để ăn rằm tháng bảy và làm lễ Vu lan.

Rằm tháng bảy là ngày mở cửa ngục, ân xá cho vong nhân nên có lễ cúng cô hồn cho các vong linh đói khát, không nhà cửa, không nơi nương tựa, không có người thân trên dương thế để thờ cúng, ngày mọi tù nhân ở địa ngục có cơ hội được xá tội, được vãng sinh về cảnh giới an lành, và lễ Vu lan là một trong những ngày lễ chính của Phật giáo với ý nghĩa báo hiếu, đền đáp, tưởng nhớ công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.

Tôi cùng bà lên chùa Thượng lễ phật. Bà tôi chít khăn mỏ quạ, vận áo chùng thâm, cổ đeo tràng hạt, đầu đội mâm đồng với phẩm oản, thẻ hương và ngũ quả vườn nhà. Thẻ hương mặc áo tứ thân xác pháo. Phẩm oản mặt hoa da phấn nõn nà. Nải chuối cong vút ngón tay Phật bà. Quả bưởi căng mọng ngực gái mười ba. Quả na mở ra trăm đôi mắt biếc. Quả hồng lẳng lơ chúm chím môi son. Quả ổi chính chuyên hây hây má tròn. Một tay bà giữ mâm đồng, còn một tay dắt tôi lũn cũn đi trên triền đê sông Sò. Triền đê mướt cỏ và sông Sò màu mỡ phù sa. 

Tôi mặc áo cánh nâu non, tóc chải ngôi lệch, má hồng măng tơ phúng phính. Gió lẳng lơ trêu đùa dải thắt lưng, nắng sóng sánh đổ mật bờ vai áo. Bà dắt tôi rẽ vào cổng tam quan, con nghê muốn nhảy ra giỡn nắng, con hạc muốn vút lên vờn gió nhưng lại sợ tiếng chuông, tiếng mõ nên ngập ngừng lại thôi. Mái ngói mũi hài cô Tấm bốn góc uốn cong như giọng chèo đêm hội mùa xuân. Cột lim lên nước nâu bóng. Tường vôi mới quét trắng sáng. 

Chùa làng.
Chùa làng.

Bầy chim sẻ năm ngoái rủ nhau về mổ ổi chín trong khu vườn biếc, giọng hót ríu ran ngọt vị ổi đào, thơm hương ổi thóc, ăn xong chúng vô ý nhả hạt xuống mặt ao trong làm cho đàn cá rô ngoi lên đớp hạt bùm bũm, tưởng sao hôm vừa rụng. Câu kinh sư ông mới tụng bung cánh như hoa mộc. Bài kệ chú tiểu đang đọc đâm chồi như búp xoan. Đàn cá rô ao trong, bầy chim sẻ vườn biếc có nghe thấu câu kinh, bài kệ để giác ngộ trí tuệ, mà soi sáng vô minh.

Sư ông nở một nụ cười an lạc như hoa ngâu chớm thu, như hoa sen tàn hạ khi giảng về sự tích lễ Vu lan. Tôi cảm động trước lòng hiếu thảo của Mục Kiền Liên. Sư ông đã đến trước mặt tôi, nhìn tôi bằng đôi mắt hiền từ rồi cài lên ngực áo tôi một bông hồng đỏ thắm. Tôi thấy lòng ngập tràn niềm biết ơn, quả tim đập nhẹ nhàng, chắp tay cúi đầu niệm “A đi đà phật”. Sư ông vuốt tóc tôi rồi người lại đi cài những bông hồng lên ngực áo những phật tử khác. Bóng pháp phục trong nắng gió sớm mai mênh mông lay động cả một vùng.

Cổng chùa làng.
Cổng chùa làng.

Tôi nằm nghe bà kể chuyện. Làng tôi trước kia có một phiên chợ họp vào đêm rằm tháng bảy dưới gốc gạo trong sân đình, gọi là chợ âm dương. Trăng sáng vằng vặc, sương phủ bồng bềnh, chân người không chạm đất. Người bán mang theo chậu nước để thử tiền, người mua thả đồng tiền vào bát nước, nếu đồng tiền đó nổi lên thì là tiền âm, còn chìm xuống là tiền dương. Có người quên mang chậu nước, sáng ra xem trong dải rút chỉ toàn lá gạo, vỏ ngao, có khi cả mẩu yếm sồi.

Cô Sen đẹp nhất làng đi bán bánh giáo, gặp một người con trai tuy còn trẻ nhưng ăn mặc rách rưới đến mua hàng. Anh ta ngồi phệt xuống đất cắm cúi ăn liền một lúc năm cái bánh giáo. Ăn xong lấy tay áo quệt ngang miệng móc tiền ra trả thì mới kêu lên “Thôi bỏ mẹ, tôi để quên tiền ở nhà”. Cô Sen thương hại bảo “Để phiên sau anh trả cũng được”. Anh ta ngước nhìn cô, hai mắt trắng dã trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt khẽ gật một cái. 

Từ hôm đi chợ âm dương về, cô Sen xanh xao, ngày ăn chẳng được, đêm ngủ mê mệt. Vừa chợp mắt, cô Sen đã mơ thấy người lẻn vào buồng, nằm xuống bên cạnh. Mẹ cô Sen vội đi mời thầy Nghinh đến cúng. Thầy Nghinh lấy roi dâu tẩm nước giải vụt vun vút lên người cô Sen, vụt đến đâu vết lằn trên da đỏ lên như than lửa. 

Thầy Nghinh phồng mang trợn má quát: “Mày tên gì? Nhà ở đâu? Sao dám nhập vào người ta?”. Bỗng cô Sen cất giọng ồm ồm của đàn ông: “Dạ, tôi tên là Tài, nhà ở thôn Chính. Tôi thích cô Sen, cô ấy xinh lại còn cho tôi nợ tiền bánh giáo, nên tôi muốn lấy cô ấy làm vợ”. Ông thầy Nghinh giơ cao tay vụt mạnh: “Âm dương cách biệt lấy nhau làm sao được. Mày có cút đi không hay muốn ông đánh cho chừa”. 

Cô Sen chắp tay vái: “Dạ tôi chừa rồi, xin đi ngay”. Bấy giờ, thầy Nghinh mới ngừng tay. Sau này hỏi ra, mới biết năm Ất Dậu có một người con trai tên là Tài nhà ở thôn Chính mồ côi cha mẹ đi kéo xe bò chở thóc thuê cho liên đoàn về ngang qua đình chợ thì gục xuống chết vì đói quá. Người ta bó chiếu đem đi chôn ở cánh đồng Hoang Điền cùng với xác người chết đói gom ở khắp làng. 

Mỗi rằm tháng bảy nhà cô Sen sắm sửa lễ cúng cho người con trai vì xấu số mà đoản mệnh, chết yểu, mặc dù cô Sen đã được ông thầy Nghinh cắt duyên âm. Đến năm sau thì cô Sen xe duyên trần với anh Khoa - một cậu giáo trường làng xinh trai, nhã nhặn. Nghe xong, tôi rụt đầu sợ hãi và trùm chăn kín mít nép vào bà không dám động đậy. Ngoài đường thôn hình như có tiếng kéo xe bò cót két đi qua rồi tiếng bóc lá bánh giáo sột soạt. Tôi rùng mình nhắm mắt lại. 

Sau này, khi bố tôi đã mất, trong một giấc mơ trưa, tôi lạc đến phiên chợ âm dương. Ở một quán lợp rạ người ta bán những cái áo dài bằng giấy trang kim, dưới vạt áo đề mấy chữ nho treo trên cột tre phất phơ trong gió heo may. Người đàn bà luống tuổi môi đỏ hoa gạo, răng đen hạt na xởi lởi mời chào: “Cậu mua áo nối tuổi cúng cho người ốm đi”. Tôi hỏi: “Cái áo này thì bao nhiêu tiền ạ?”. Bà chủ quán đáp: “Một quan cậu ạ, nối thêm mười năm tuổi thọ đấy, còn cái áo kia thì hai quan, nối thêm hai mươi năm nữa”. Tôi nói: “Tôi muốn mua cái áo nối thêm bốn mươi năm, để bố tôi sống trăm tuổi”. “Thế thì bốn quan nhé”, - bà chủ quán thủng thẳng. 

Tôi rút tiền ra trả thì sực nhớ ra bố tôi đã mất từ năm ngoái lúc bố tôi tròn sáu mươi tuổi. Rồi tôi khóc như mưa không thể nào nín được. Bà chủ quán hỏi: “Có phải bố cậu đã mất rồi không?”. Tôi gật đầu. Bà chủ quán buồn rầu bảo: “Thế thì cậu đến chợ muộn quá, phải đi từ phiên trước cơ”. Bất chợt trời nổi cơn giông, mây đen kéo về, gió cuốn cát bụi và lá khô mù mịt, những cái áo treo trên cột tre của quán chao liệng và bay vút lên trời. Tôi vừa khóc vừa đuổi theo những cái áo dài bằng giấy màu xanh pha lẫn với sắc vàng cứ chập chờn trước mặt.

Tôi đứng cạnh cô Nhung ở đình chợ Hoành Nha xem người ta cúng cô hồn. Đình chợ là nơi tập trung xác những người chết đói năm Ất Dậu, xác những chiến sĩ cộng sản kiên trung bị giặc Pháp xử tử, và xác những người dân vô tội bị máy bay Mỹ ném bom. Trên sân đình còn tấm bia căm thù để chúng ta không bao giờ quên tội ác dã man của quân xâm lược. Trên sân bày sẵn những cái nong to, đặt nhiều phẩm vật. 

Đĩa muối gạo trắng ngần như tuyết. Xôi nắm “chim chim” như nắm xôi thằng Bờm. Cháo hoa loãng như nước mưa đổ trên lá bồ đài. Bỏng gạo nở xòe như bông nhài. Ngô, khoai, sắn luộc nằm la liệt như đàn lợn âm dương tí hon. Đường thẻ đỏ chót như gạch son. Cốc nước trong vắt như sương sớm. Quần áo giấy, tiền giấy mỏng tang như cánh chuồn, cánh bướm. Khúc mía như cô thiếu nữ nhà quê mặc lụa tím, tơ vàng. Và khói như ráng, như mây bay lên từ mấy nén nhang. Theo lời khấn Văn tế thập loại chúng sinh của ông chủ lễ. Gạo vãi đầu non. Muối tung cuối bể. Lũ trẻ con chen chúc để cướp đồ. 

Tôi hỏi bà tôi: “Bà ơi, bao giờ thì cháu sẽ trở về với rằm tháng bảy ngày xưa, để được lên chùa lễ Phật và xem cúng cô hồn?”. Bà tôi đáp: “Không bao giờ cháu ạ, chỉ trừ khi chúng ta hóa thành tro tàn, tái sinh vào cõi người để bắt đầu lại khổ đau và hạnh phúc. Còn bây giờ cháu chỉ có thể bay về những ngày thơ bé bằng đôi cánh của ký ức mà thôi”. Và mỗi rằm tháng bảy tôi vẫn bay về…

Hoàng Anh Tuấn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).