Báu vật của làng Rồng!

Lộng Thượng là tên của làng bây giờ. Nhưng một thời địa chỉ ấy còn có tên gọi: Làng Rồng. Cũng là cái ngày xưa xa lắc xa lơ đó, người làng làng Rồng, xã Đại Bái, huyện Văn Lâm của miền quê nhãn lồng Hưng Yên chuyên sống bằng nghề buôn bán phế liệu. Vậy mới có câu ca dao kể trên, vì nhẽ, cầu Nôm là một trong những địa danh của làng.

“Đồng nát thì về cầu Nôm
Con gái nỏ mồm về ở với cha

Năm tháng đi qua, từ nghề kinh doanh phế liệu để mưu sinh lúc ban đầu, các bậc tiên hiền của làng Rồng cho ra đời cái nghề đúc đồng. Nhờ cái nghề vô cùng gian nan vất vả nhưng đầy lãng mạn ấy mà người làng Rồng trở nên có danh có phận. Và người ta trân trọng nâng niu cái nghề đã nuôi sống bao kiếp người của làng còn hơn cả một thứ báu vật vô giá.

Bức tranh hiện thực mô tả “cái tích” liên quan tới sự ra đời của nghề đúc đồng làng Rồng chỉ ngắn ngủi vậy thôi. Nhưng truyền thuyết của làng lại kể rằng, người truyền nghề đúc đồng cho người làng Rồng là Khổng Minh Không, vị Quốc sư triều nhà Lý, thế kỷ thứ XII. Để tỏ lòng biết ơn Khổng Minh Không, người dân nơi đây đúc tượng đức Tổ sư thờ cúng và thành tâm hương khói quanh năm cho Ngài.

Báu vật của làng Rồng! -0
Công đoạn đánh bóng sản phẩm.

 Nghệ nhân Dương Văn Ban nay đã ở cái tuổi ngoài bát tuần xúc động tâm tình, mình theo các bậc “tiên chỉ” trong nhà, trong làng học nghề đúc đồng từ thuở mới 13 tuổi. Đến năm 16 tuổi thì người nghệ nhân thuộc lớp người “xưa nay hiếm” của làng Rồng chính thức ra nghề.

Xưa nay, hễ nói tới nghề đúc đồng ở xứ Bắc nước Việt ta thì thiên hạ thường chỉ quen nhắc tới những địa chỉ mà họ cho rằng, đấy mới là những làng nghề truyền thống “có số, có má” bậc nhất. Ví như làng đúc Đồng Ngũ Xã của Hà Nội. Rồi thì làng Tống Xá thuộc huyện Ý Yên, Nam Định. Và nữa là làng Đại Bái của Bắc Ninh,… chứ mấy ai tỏ tường rằng, quê nhãn Hưng Yên cũng là một trong những địa chỉ sinh ra những làng nghề chuyên đúc đồng nổi tiếng từ thời “cổ tích”, trong đó có làng Rồng.

Cụ Ban thổ lộ, đâu như một số phường thợ giỏi ở làng Rồng đã lên kinh thành Thăng Long cùng một số phường nghề khác lập nên làng nghề Ngũ Xã lừng danh. Vậy thì dẫu kín tiếng, nhưng nghề đúc đồng ở làng Rồng cũng đã có tên có tuổi từ ngày nảo ngày nao rồi đấy chứ. Và con người làng Rồng nào đâu có kém cạnh các phường nghề khác trong thiên hạ.

Người làng Rồng bảo, là một trong những cây cao bóng cả của làng nên nghệ nhân Dương Văn Ban là “cuốn sử sống” của làng đấy. Kể về quá trình hình thành, phát triển của nghề đúc đồng làng Rồng, người nghệ nhân già bồi hồi nhớ lại, có được cái danh cái giá như bây giờ các thế hệ thợ thuyền của làng đã từng trải qua bao phen thăng trầm khốn khổ.

Nào đã hết, tới thời chống phát xít Nhật, các lò đúc của làng Rồng hầu như không hề đỏ lửa trong một thời gian vì rất nhiều sự tác động khách quan. Rồi thì dạo Cách mạng tháng Tám làng nghề chững lại một thời gian dài, tưởng chừng như không có tương lai.

“Đặc biệt là quãng thời gian từ 1970 cho đến 1980 của thế kỷ trước, làng nghề đúc đồng của làng Rồng gần như rã đám hoàn toàn anh ạ! - Nghệ nhân Ban xúc động chia sẻ - Xảy ra cơ sự ấy là bởi làng nghề gặp phải vô vàn những khó khăn do khách quan và chủ quan mà bây giờ có kể lại khó có bút lực nào ghi chép cho xuể. Lửa nung trong các lò đúc ở làng đều nguội lạnh hết cả. Dân làng Rồng hoang mang với câu chuyện chuyển đổi nghề để may ra có thể mưu sinh dài lâu. Sau những chấp chới khi mà cả làng đã bỏ nghề, tôi quyết định phải bám bằng được lò nung. Chỉ có thế may ra mới giữ được nghề của tiên tổ trao truyền!”.

Cũng chính những năm tháng bĩ cực ấy, đồng thời với việc tìm đủ mọi kế xoay xở kiếm sống nuôi gia đình bằng cái lò đúc của mình, ông Ban và các bạn thợ còn đôn đáo truyền nghề cho những người trẻ với  khát vọng nhân văn: Sẽ khiến những que diêm cháy sáng trong đêm để các lò đúc đồng của làng Rồng sẽ được nhen nhóm lại.

Rồi đến một bữa nọ sau những chuỗi ngày dài giông tố, trời quang mây tạnh và nắng hửng lên. Đó chính là lúc ước mơ của ông Ban đã thành hiện thực. Ấy là khi nghề đúc đồng của làng Rồng không những chẳng bị thất truyền mà bây giờ, cả làng đã có hơn một trăm lò đúc rực lửa quanh năm. Gặp khi mặn chuyện, ông Ban thổ lộ, trong nhà mình hiện đang lưu giữ bộ đỉnh vuông, tai thùng niên đại gần 100 năm do cụ thân sinh dày công sáng tạo nên. Đó là những báu vật vô giá mang tính gia truyền.

Nhưng với người nghệ nhân tài hoa ấy thì, năm người con trai cùng các hậu duệ đang hăm hở nuôi dưỡng khát vọng sáng tạo nên những sản phẩm đồng đúc có “thương hiệu” riêng nhằm làm phong phú hơn nghệ thuật đúc đồng truyền thống của làng Rồng mới chính là “của để dành”  mang giá trị lớn nhất cuộc đời mình, ấy vậy!

*

Dẫu là người “sinh sau đẻ muộn”, nhưng bởi sớm có “duyên phận” với nghề đúc đồng truyền thống từ cái thuở còn chăn trâu cắt cỏ và thả diều đánh khăng thành ra, ông Dương Văn Tập sớm đứng trong hàng ngũ những nghệ nhân “có số có má” của làng Rồng.

Kể về con đường vào nghề của mình, ông Tập chia sẻ rằng, mình đến với nghề theo kiểu cha truyền con nối. Mới mười tuổi đầu ông Tập chính thức được bố truyền cho những bí quyết của nghề đúc đồng. Thế nên từ dạo ấy, tất cả những kỹ năng cần thiết của một người thợ đúc đồng chuyên nghiệp, dù là nhỏ nhặt nhất, cậu chàng Dương Văn Tập đã thuộc nằm lòng.

Báu vật của làng Rồng! -0
Những sản phẩm tinh xảo của người làng Rồng.

Nhắc tới quá trình hình thành nên một tác phẩm đồ đồng từ lò đúc thủ công, nghê nhân Dương Văn Tập chợt trở nên hưng phấn đặc biệt. Ông kể, công đoạn đầu tiên tạo mẫu ra bức tượng xong mình cho khuôn vào để lấy hình đó. Theo lời người nghệ nhân chân quê chuyên đúc tượng ấy thì, việc trên là khâu khó nhất trong các công đoạn để làm bức tượng đồng.

Mỗi một tác phẩm tượng đồng là một câu chuyện thuộc về thế giới tâm linh gói ghém trong đó. Vậy nên, nếu người sáng tạo ra nó không nuôi dưỡng trong tâm hồn mình một chữ TÂM thì chả bao giờ bức tượng ấy thể hiện được sự chân thật sống động mang thần thái hoan hỷ đâu. “Chả biết thiên hạ quan niệm thế nào chứ với riêng tôi thì, cái đẹp của một tác phẩm tượng đồng thủ công truyền thống chính là ở chỗ đó đấy anh ạ!” - Nghệ nhân Dương Văn Tập chắc nịch một câu như thế khi kết thúc câu chuyện với khách.

*

Đắm đuối và đầy những say sưa “thổi hồn” vào những bức tượng đang làm, anh Dương Việt Bách, một người thợ trẻ nhưng đã “có tiếng có tăm” từ rất sớm ở làng Rồng cho hay: “Đây thật sự là những tác phẩm mà tôi vô cùng tâm huyết. Anh thấy đấy, các tượng được đúc bằng chất liệu đồng thau. Chúng có màu giả cổ và hiện đang được thị trường rất ưa chuộng!”.

Theo lời anh Bách, những sản phẩm của mình mang màu sắc giả cổ khiến cho người ta có cảm giác chúng có tuổi đời từ 50 - 70 năm. Để mang lại cái cảm giác đó cho người ngoài cuộc anh Bách chỉ mất hơn một tuần lễ để thực hiện các phương pháp gia công. Anh Bách đã phải nhờ tới công nghệ thời 4.0 kết hợp nhuần nhuyễn với vốn kiến thức mà bản thân đã “tu luyện” được từ nghề truyền thống của ông cha mới có thể tạo nên một thứ màu giả cổ riêng có cho các sản phẩm của mình.

Tâm sự về công việc mà mình đang kỳ công theo gót các bậc tiền hiền của làng nghề, anh Bách thổ lộ, muốn trở thành một người thợ đúc đồng truyền thống vào hạng “cao thủ” nhất định phải thành thục năm khâu kỹ thuật cơ bản. Đó là các bước tạo hình; tạo khuôn để đúc thành đồng.

Rồi thì khâu pha chế, nấu đồng và rót đồng; chạm khắc trên bề mặt sản phẩm. Bước cuối cùng là đánh bóng. Trong số các sản phẩm làm nên danh nên giá của làng Rồng thì làm tượng thờ là tốn công sức nhất. Anh Bách quả quyết rằng, một người thợ không có tay nghề cao và phẩm chất tư duy nghệ thuật thì không thể cho ra đời những tác phẩm tượng thuần Việt và “ăn tiền” trên thị trường được. Bây giờ, nghề đúc đồng truyền thống của làng Rồng đã được mở rộng với một quy mô lớn hơn.

Cùng với đó là sự phân công ngành nghề mang tính chuyên nghiệp. Các hộ sản xuất đã liên kết với nhau thành lập các phường sản xuất riêng theo từng công đoạn, từng loại mặt hàng, như: xưởng làm mâm, xưởng làm chậu, xưởng đúc đồ thờ cúng, xưởng đúc tượng, v. v…

Sự chuyên nghiệp ấy đã tạo cơ hội cho nghề đúc đồng của làng đang ngày càng phát triển. Sản phẩm của làng Rồng đã có chỗ đứng ổn định trên thị trường. Lớp nghệ nhân, thợ trẻ trong làng đã bảo tồn và phát huy tinh hoa của thế hệ ông cha đi trước một cách căn cơ, bài bản. Nhờ thế mà đời sống của người làng Rồng ngày một khởi sắc, phồn thực.

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).