Bất chợt một miền thơ

Điều gì làm cho ta cảm thấy rung động trước một bài thơ? Tôi nghĩ, đó không phải chỉ là những con chữ hiện hình trên mặt giấy. Có rất nhiều con chữ đẹp nhưng không Chạm được vào ta, bởi người viết không mang một cảm thức thi ca thực sự.

Thơ đến từ những miền bất chợt, nó là sự đầy tràn tự nhiên từ một trái tim thi sĩ, một tâm hồn rung ngân, chứ không phải từ bất cứ một sự cố gắng nào. Tôi đã gặp một miền bất chợt ấy trong thơ Trương Phù Sa. Một miền buồn và đẹp đến độ trong vắt, như mặt nước sông ta có thể soi bóng trong buổi chiều nắng vàng, im gió.

“Em về giữa nắng”- tập thơ mỏng mảnh và nhẹ như chiếc lá. Nó có thể chìm lẫn trong muôn vàn cuốn sách dày dặn, ngày càng có xu hướng long lanh về hình thức, được bày đẹp đẽ trong những quầy sách ngoài kia. Nhưng nếu đọc hết tập thơ, gấp sách lại, ta có cảm giác đi hết một chiếc lá đó thôi cũng đủ hết một cuộc đời.

Bao nhiêu trải nghiệm, bao nhiêu thương nhớ, bao nhiêu buồn vui, bao nhiêu ngọt ngào và cả mất mát gói ghém vào đó một đời người làm thơ. Miền thơ ấy có tên là Miền Yêu, cho ta thấu hiểu tâm hồn người thi sĩ - Trương Phù Sa:

Không thấy buồn chỉ thấy em giữa quạnh hiu ta nhớ
Mùa sang chưa trên triền dốc giữa mong chờ
Em bất chợt như là cơn mưa trên miền sa mạc cháy
Níu bước chân xưa em về lại bao giờ....

(Giữa quạnh hiu)

Tình yêu muôn đời là câu chuyện của nghệ thuật nói chung và thi ca nói riêng. Người sáng tạo đứng ở điểm nhìn nào rồi họ cũng hướng về vùng trung tâm ấy. Như tiếng gọi tất yếu của tâm hồn và trái tim con người. Tình yêu giúp mỗi chúng ta đi qua những miền “sa mạc cháy”.

Và Em trở thành một nhân vật trữ tình, một cảm thức không thể nào rời xa tâm hồn thi sĩ Trương Phù Sa. Như đốm lửa đỏ cho người làm thơ tìm đến, giữa quạnh hiu cõi đời. Em trong thơ Trương Phù Sa còn là một miền hoài niệm.

Một miền của ký ức đã xa nhưng không bao giờ mất. Giống như một phần đời sống của tác giả, vĩnh viễn còn đó, buồn lắm mà cũng hân hoan lắm, gần lắm mà cũng xa lắm. Có lúc xa như là hư ảo. Như đóa trăng xanh tuổi mười tám đôi mươi vẫn nở góc trời. Phải thế chăng mà Trương Phù Sa có những câu thơ về Em vô cùng ám ảnh:

Em thánh thiện đi về bên ngõ vắng
Dấu chân xưa phiền muộn tóc mây cài
Còn mãi nhớ em xa chiều hạ nắng
Thuở tôi về em cứ tuổi tròn trăng

Màu ngọc bích có còn xanh mời gọi
Em có còn phố cũ áo xưa phai
Ngày thật chậm bước chân chừng nghe nói
Tiếng con đường thương nhớ ở trên vai...

“Tiếng con đường thương nhớ ở trên vai” - sao cứ là một sự run rẩy buổi đầu, những hò hẹn mới chớm, những buổi chiều im ắng có thể nghe rõ từng bước chân bồn chồn của những người yêu nhau. Những câu thơ đã tạo dâng cả một vùng không gian trong vắt, vừa thực vừa mộng. Giống như một giấc mơ vì quá đẹp mà người ta không thể nào rời xa, hay lãng quên được.

Mặc dù Tình yêu là câu chuyện muôn thuở của con người, là đề tài mà người cầm bút nào cũng hướng đến, quen thuộc như hơi thở của chúng ta, nhưng để viết hay về tình yêu lại không dễ. Viết để neo bám được vào hồn người còn khó hơn nữa. Thế giới thơ của Trương Phù Sa, dù có một số bài anh viết về đề tài khác như Mẹ, quê hương...nhưng phần đa vẫn là Em. Em là một hình ảnh biểu tượng, là ký tự để nhà thơ diễn đạt về Yêu.

Rồi theo em về giữa phố khuya
Đêm sao huyền diệu tóc đong đưa
Vai thơm mắt biếc bờ môi ấy
Mùa hạ còn đây dáng em gầy

(Đường mưa khuya)

Đường xa áo vải chân trần
Đường thiên thu cũng một lần bước đi
Đường em vạn đại xuân thì
Đường mưa nắng biết nhớ gì riêng tôi

(Còn lại)

Có nhớ tôi theo em về bên phố
Một hàng cây và một phố chờ
Em huyền diệu cũng là em ngày cũ
Ngày rất xa ngày lại rất gần

(Đêm ở Kyoto)

Một chút vô thường tựa gió bay
Tựa mây hồng thoáng nhớ hôm nay
Em ơi ngày hạ buồn trên tóc
Còn với hao gầy một tối say

(Em đi ngày hạ)

Thì đường vắng em về đi nhé
Đường còn xa tàu chạy cũng gần
Về đi nhé không lời từ tạ
Khuya em về đôi mắt chia xa

(Đường vắng)

Những đoạn thơ như thế, và còn nhiều nữa trong tập “Em về giữa nắng” của Trương Phù Sa, nhắc đến hình ảnh Em. Đó có thể là một người em cụ thể, nhưng đồng thời cũng là một miền tương tư, nhớ nhung của nhà thơ. Em như gió trời, như khói, như mây, như tơ vương trong lòng người.

Em như thực mà như ảo, gần đến nỗi cho ta nhìn rõ bờ môi ấy, tóc ấy, vai ấy, mà cũng xa xăm ngàn trùng như thiên thu. Nhưng chắc chắn một điều, trong ta, em mãi mãi “vạn đại xuân thì”, ngàn năm tuổi trẻ. Em trở thành màu nhiệm cho nhân vật Tôi trữ tình trong những bài thơ da diết vẫn mãi bước theo, như tìm về suối nguồn của hồn mình.

Trương Phù Sa người gốc Huế. Thơ của anh có kinh thành, có sông Hương, và có Em, những hình ảnh đặc trưng quen thuộc gắn liền với một vùng đất giàu cảm thức nghệ thuật. Trong thơ Phù Sa có chút gì phảng phất nhạc Trịnh, có chất Thiền của đạo Phật. Dù cho ông viết về Em, viết về tình yêu, nhưng tinh thần Phật giáo vẫn lan tỏa trong câu chữ, tạo ra một chất riêng không thể trộn lẫn.

Về trong hữu hạn núi đồi
Về trong vô hạn điệu cười cao nguyên
Về trong thông ngọn triền triền
Về trong kiếp kiếp một miền trầm luân
Về trong vó ngựa âm thầm
Về trong huyền hoặc phố nằm chiêm bao
Về trong hồ thấp suối cao
Về trong mây trắng bay vào trời xa...

(Về giữa cao nguyên)

Thơ Trương Phù Sa buồn. Một sự buồn đã gạn kỹ, lọc kỹ. Một sự buồn “đáy cốc”. Giống như người ta ủ rượu, phải đủ năm tháng cho men ngấm. Nỗi buồn năm tháng khác với nỗi buồn xổi. Là nỗi buồn đi tìm tri âm, không cần tìm đám đông. Như phù sa đã lắng, cần một sự lặn ngụp rất sâu để cảm và thấm hết. Nói cách khác, thơ Trương Phù Sa là nỗi buồn “để dành”, giống như hai câu thơ anh viết: “Mưa rơi chầm chậm như lời nói/ Chút nắng giùm tôi nhớ để dành” (Ngày xưa).

Trương Phù Sa là người biết giá trị của nỗi buồn, biết chắt chiu nỗi buồn và chỉ chịu thả nó vào trong những “bất chợt thơ” mà tôi đoán anh quan niệm đó là một cõi  riêng, không màng nhiều lắm sự chia sẻ. Đọc  thơ Trương Phù Sa nên đọc trong một không gian tĩnh. Một nơi vắng tiếng lao xao. Một nơi mà vì sự im lặng của nó bạn có thể thấy được sự hiện hữu của đời sống xung quanh. Thấy được cả ngày đã xa và cả ngày chưa tới. Thấy được sự vô thường của đời người, và nhờ vậy, thấy được sự vĩnh hằng của tình yêu.

Thi ca là lãnh địa của Buồn quả không sai. Những bài thơ hay, ám ảnh tâm hồn bạn đọc nhiều thế hệ vẫn luôn luôn là những bài thơ buồn. Nhìn ở một góc khác, Buồn cũng chính là một bài hát về cuộc đời. Có khi phải đi qua rất nhiều vui, người ta mới có thể đến được với Buồn. Phải mất thêm thời gian nữa để ngộ ra, Buồn cũng cần cho đời sống, như Vui.

Và bởi nếm trải Buồn mà Vui trở nên sâu sắc hơn, Thật hơn. Buồn cũng nhiều cách hiểu và nhiều cấp độ. Và có cả những nỗi buồn giả trong thi ca, nghệ thuật. Những bài thơ nếu được viết ra từ nỗi buồn giả, sẽ nhanh chóng rơi vào lãng quên. Chỉ có nỗi buồn thật, nỗi đau thật, và phải lắng đến độ nào đó, mới có thể đập vào trái tim người đọc, tạo nên một nhận thức mới, một cảm giác mới.

Qua thơ biết người là vậy. Qua thơ Trương Phù Sa, biết anh là người mang tâm sự. Biết anh mất mát trong tình riêng. Biết anh là người viết bằng nỗi buồn thật, niềm đau thật.

Đà Lạt trong tôi còn có lần trở lại
Đà Lạt trong em thôi thế một đời người
Một đời em về vui cùng cát bụi
Chở lên trời từng ngọn gió thông reo

(Về Đà Lạt)

Một hôm nhớ lại một người
Một con đường cũ đã lười biếng qua
Một chút tình ngỡ trôi xa
Một môi cười nụ mình ta ngậm ngùi...

(Nhớ)

Vì những câu thơ đẹp và buồn đó, biết thêm một Trương Phù Sa đã cư xử với Thơ như một miền an trú. Để bộc bạch và gửi gắm. Để cất giữ trong im lặng một gia tài của tâm hồn, giữa cuộc sống nhiều ồn ào, bận bịu. Đừng nói chỉ với người làm thơ, mà với bất kỳ ai trong chúng ta cũng luôn cần một miền như vậy...

Tác giả Trương Phù Sa, tên thật Trương Văn Phước

Sinh ngày 12-2-1959

Quê quán: Triệu Phong, Quảng Trị

Học Toán, Luật, Văn chương Anh tại Đại học Tổng hợp Huế - Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh

Làm thơ từ năm 1972

Đã xuất bản tập thơ: ''Em về giữa nắng'' - NXB Thanh Niên

Hiện đang công tác tại Hà Nội.

Vũ Quỳnh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).