Bảo Lộc - người thơ ở lại

Ta đến đây/ Khác với mây/ Là ở lại”. Đi Bảo Lộc đầu năm 2025, có 3 người thơ tôi muốn gặp là thi sĩ Bùi Thanh Tuấn (đang bệnh), nữ sĩ Thu Nguyệt (chủ Vườn thiền Thong Dong) và kỳ sĩ Nguyễn Đức Sơn (mất năm 2020). Kỳ sĩ Nguyễn Đức Sơn xin hầu bạn đọc sau vậy.

Những cơn mưa Bùi Thanh Tuấn

Trên đường lên Bảo Lộc, tôi nóng lòng gặp bạn thơ Bùi Thanh Tuấn, người viết bài thơ được nhạc sĩ Trương Quý Hải phổ thành tình khúc vang danh “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”. Trước đó không lâu, nghe tin bạn bị trọng bệnh, quy cố hương. Tuấn vẫn xài FB “Bùi Thanh Tuấn (Lão Bộc)”, tôi gọi thì giọng anh như reo: “Tới ngay! Tao đang trông!”.

bttuan 2.jpg -1
Nhà thơ Bùi Thanh Tuấn ký tặng sách.

Bùi Thanh Tuấn là nhà thơ, nghệ sĩ nổi tiếng là một sự thật. Bùi Thanh Tuấn là một nhà báo đa năng là một sự thật. Bùi Thanh Tuấn hào hoa, đa mang nỗi buồn là một sự thật. Đầu 2025, tôi gặp một Bùi Thanh Tuấn nhớ nhớ quên quên, cứ chực khóc khi bạn cũ đến thăm. Anh giờ đang dưỡng bệnh tại nhà, sau khi phát hiện và điều trị bệnh ung thư vòm họng.

Gặp nhau, Tuấn cứ cầm tay tôi lắc lắc, thỉnh thoảng lại nói câu “mày lên đây thăm, tao mừng quá”. Dẫu biết cuộc sống vô thường nhưng thật rưng rưng khi gặp lại thằng bạn đẹp trai, đa tài mới ngày nào còn sung mãn bạt ngàn, giờ phải chống gậy run run. Tuấn gầy đi rõ rệt, nước da không còn trắng hồng như lần trước tôi gặp. Giờ chủ yếu anh loanh quanh nhà, ở cùng người chị ruột và vợ chồng đứa cháu. Trên bàn thuốc men la liệt.

Chúng tôi xin phép đưa Tuấn đi chơi Bảo Lộc phố. Dẫu quên nhiều chuyện gần đây nhưng anh vẫn còn nhớ vanh vách “đã từng 2 lần cưới vợ. Không có con. Giờ ở một mình. Học Sài Gòn. Ở mấy năm Hà Nội. Làm phim cho HTV, Phương Nam. Mở Cà phê Lão Bộc tại Bảo Lộc. Đi Âu, đi Á, ở Mỹ mấy năm. Rồi về lại quê…”. Ngồi trên taxi, Tuấn trầm ngâm “mấy tháng nay tao mới lại ra phố”. Trên đường, anh chỉ nơi này xưa Trịnh Công Sơn ở trọ, nơi kia xưa anh thuê mặt bằng mở Cà phê Lão Bộc, khuôn viên này xưa là trường kỹ nghệ đẹp nhất Đông Dương… Bạn bè Bảo Lộc vẫn thương quý tận tâm với Tuấn. Hễ anh gọi là họ đến ngay.

Bùi Thanh Tuấn nhỏ hơn tôi 3 tuổi nhưng vẫn mày tao như từ buổi đầu. Anh sinh năm 1974 tại Bảo Lộc, Lâm Đồng. Cuối năm 1992, anh viết bài thơ “Chia tay người Hà Nội” để tặng một người bạn gái. Hè 1993, nhạc sĩ Trương Quý Hải phổ bài thơ và dựa câu đầu đặt tên “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa”. Rất nhanh chóng, bài hát đi vào lòng công chúng.

Bùi Thanh Tuấn cho hay: “Nhạc và thơ trong “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” có một mối tình đẹp. Chỉ trong 24 tiếng sau khi “lãng tử Hà thành” Trương Quý Hải phổ, bài hát đã có một đời sống riêng. Rồi phải 3 năm sau khi viết bài thơ “Chia tay người Hà Nội”, tôi mới lần đầu tiên đặt chân đến Hà thành. Tôi viết về Hà Nội bằng tưởng tượng, hình dung của riêng mình. Mà tưởng tượng bao giờ cũng lung linh…”.

Gặp nhau lần nào cũng thấy Tuấn hào sảng nói cười, yêu bạn bè vô tư lợi. Có lúc anh tư lự “mình “ăn” bài “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” nhiều quá…”. Thế nhưng mấy ai trong nhóm chúng tôi sớm tạc dạ công chúng được như anh. Đến nay, Bùi Thanh Tuấn đã in 2 tập thơ: “Còn chút tình riêng trong mắt nhau” (2000) và “Phiên bản” (2008). Tôi moi trong tủ sách của anh còn mấy cuốn “Phiên bản”; cuối bìa 4 có “dọa” sắp in 3 cuốn: “Hạnh phúc chỉ là lời nói dối”, “Tứ tuyệt cà chớn”, “Tứ tuyệt tình”. Ngoài sáng tác thơ, anh là người làm phim tài liệu, viết du ký tài hoa. Anh còn là ca sĩ, nhạc sĩ sáng tác những ca khúc “số má” như “Ru lòng khờ dại”, “Phúc âm buồn”…

Bùi Thanh Tuấn từng tâm sự: “Thành công đến sớm cũng là một bài học đời dạy mình. Dường như tôi chỉ muốn quên đi hết ngày hôm qua mình là ai, từng là gì, làm được gì, đau khổ hân hoan ra sao… Tôi chỉ giữ đúng niềm hãnh diện là mình luôn đã là chính mình, trung thành với một con người mơ mộng nhưng trần trụi vốn có. Tôi đã kiếm được tiền nhiều nhưng cũng bằng cách lương thiện và cũng đã sống những ngày “tận đáy” một cách kiêu hùng. Nếu có nợ, tôi chỉ nợ ân tình. Đời tôi thế mà lại vui! Tôi chưa qua hết đời người nên tôi không khẳng định được đời mình thành công hay thất bại”.

Thong dong Thu Nguyệt

Chưa đến Vườn thiền Thong Dong, tôi đã nghe danh nữ sĩ Thu Nguyệt. Rất nhiều người đã hết sức xúc động khi biết câu chuyện về hai người đàn ông có “dính dáng” đến cuộc đời chị. Đó là người chồng họa sĩ Việt Hải (Đặng Ca Việt) với cái chết không ngờ giữa độ sung sức. Và một chút “duyên nợ” của nhà thơ Bế Kiến Quốc với lời thơ bài hát “Ngẫu hứng lý qua cầu” (nhạc Trần Tiến) viết khi “say nắng” cô gái trẻ Thu Nguyệt.

Nhà thơ Bế Kiến Quốc viết bài thơ “Lý qua cầu” ngày 16/7/1984 tại thị xã Cao Lãnh, Đồng Tháp; sau in trong tập “Lời nói”. Bài thơ: Bằng lòng đi em…/ Nhưng má anh đã mất/ Mịt mù xa Nam - Bắc khó đưa dâu/ Bằng lòng đi em…/ Nữa mai rồi cách mặt/ Chuyện tâm tình muốn nói dễ chi đâu/ Bằng lòng đi em…/ Dẫu chỉ nhờ câu hát/ Có chiếc xuồng ba lá của riêng nhau/ Bằng lòng đi em…/ Mỗi khi buồn muốn khóc/ Một mình anh ca điệu lý qua cầu

Ngay sau nghe Bế Kiến Quốc đọc bài thơ, nhạc sĩ Trần Tiến đã hứng khởi phổ thành ca khúc “Ngẫu hứng lý qua cầu”. Bài hát lập tức bay xa, được công chúng nồng nhiệt hòa điệu.

Về cái duyên với người thơ tài năng này, chị Thu Nguyệt cho hay: “Đối với tôi, anh Bế Kiến Quốc là một người anh, một người thầy, một người bạn thơ vô cùng thiêng liêng. Tôi may mắn được gặp anh vào năm 1984, trong trại sáng tác văn học Đồng Tháp lần thứ nhất. Năm ấy, tôi là một con bé nhà quê, sinh viên Trường Sư phạm, mới tập tễnh bước vào lĩnh vực văn chương, tôi đã được anh tận tình chỉ bảo. Anh đã dạy tôi từ cách đọc và hiểu thế nào là một bài thơ hay đến những kỹ thuật sơ đẳng nhất của một người sáng tác”.

Nhà thơ Thu Nguyệt cho biết thêm: “Tôi và anh Bế Kiến Quốc trân trọng nhau nhưng chưa hề cầm tay, không một lần đụng chạm. Khi ra Hà Nội học Trường viết văn Nguyễn Du, tôi hồn nhiên đến nhà chơi khi vợ anh Quốc (nhà thơ Đỗ Bạch Mai) nhắn mời. Tôi đâu biết là lúc đó anh Quốc tỏ ra rất khó xử. Có người biết chuyện nói với tôi: “Mày dại quá! Bà Mai đang ghen mày ghê lắm!Vậy mà dám đến nhà người ta?!”. Thế nhưng sau đó, hai chị em tôi lại hết sức thân thiết”.

Sau này, khi nhà thơ Bế Kiến Quốc mất, chị Đỗ Bạch Mai đã cần mẫn lục lại, nâng niu từng bài thơ của anh viết cho mình và cho nhiều cô gái khác (trong đó có bài thơ “Lý qua cầu”) để in sách.

39a5c453e15a55040c4b.jpg -0
Nhà thơ Thu Nguyệt giữa Vườn thiền Thong Dong.

Về người chồng tài hoa của nhà thơ Thu Nguyệt (họa sĩ Việt Hải), nhà văn Trần Quốc Toàn hồi ức: “Trong thư viện Việt Hải có loại sách quý hiếm mà ít thư viện có được, đó là loại sách cả nhà cùng làm, vợ ngẫu hứng thì chồng định hình, mẹ viết thì con vẽ, vợ rút ruột ý tứ đợi chồng bao bìa hoàn thiện tác phẩm… Sách ấy là các tập thơ “Điều thật”, “Ngộ”, “Cõi lạ”, “Hoa cỏ bên đường” của bà Việt Hải, nhà thơ Thu Nguyệt. Những sách ấy, những tập thơ ấy, chồng Việt Hải vẽ bìa, ba cô con gái Hải Thi, Hải Thư, Hải Tú vẽ phụ bản, sách ấy vừa là sản phẩm lao động của cả nhà vừa là thú chơi sang trọng và không tốn kém của những gia đình chỉ biết sống bằng giấy bút, bằng phím chữ và mực in, bằng màu và cọ… đó là nhà vợ chồng Hải - Nguyệt và các con. Nhà ấy, kể từ 9h30 thứ tư, ngày 18/6/2003 đã mất một người. Việt Hải đã chết, chết trẻ 44 tuổi vào ngày ấy vì tai nạn giao thông, chết trên đường làm công việc của một họa sĩ trình bày báo, trên đường đi lấy một tấm hình, đặt vào ô trống trên trang báo anh đang trình bày dở dang”.        

3 năm sau khi họa sĩ Việt Hải mất, đến năm 2006, nhà thơ Thu Nguyệt mua được mấy sào đất ở Bảo Lộc. Rồi khi về hưu (năm 2018), chị quyết định rời Sài Gòn về hẳn Bảo Lộc để gầy dựng Vườn thiền Thong Dong, tại địa chỉ đường Lê Thị Riêng, xã Lộc Châu, TP Bảo Lộc, Lâm Đồng. Rất nhiều khó khăn khi một thân xây cơ ngơi giữa ngút ngàn núi đồi. Thế nhưng chị đã kham nhẫn vượt qua trong niềm vui lao động và tu tập.

Nữ sĩ Thu Nguyệt chia sẻ: “Thật thú vị khi mình được sống trong khu vườn do chính mình gây tạo. Tự do và hợp ý. Việc sáng tác thì tùy duyên và cảm xúc thôi. Tôi mong luôn giữ được khu vườn thanh tịnh, xanh tươi, ngập tràn năng lượng tích cực. Tôi sẽ được sống bình yên, thong dong. Tôi cũng mong vườn thiền sẽ là một địa chỉ yêu thương. Tôi nghĩ điều đó mang lại lợi ích cho mọi người. Và đó cũng là chút đóng góp của tôi cho cuộc đời này”.

Đào Đức Tuấn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.