Bàn thêm về tộc danh và tính chính danh của chủ thể

“Tộc người” (ethnic) là thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Hy Lạp, xuất hiện từ rất sớm, nhưng nội hàm của khái niệm này luôn có sự thay đổi trong trường kỳ lịch sử. Thậm chí, ngay trong cùng một thời điểm, ở những khu vực khác nhau, quốc gia khác nhau, các nhà khoa học cũng có những cách kiến giải khác nhau.

Năm 1979, Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định 121 “Về danh mục các dân tộc Việt Nam” để phục vụ công tác điều tra dân số. Đến nay, danh mục này vẫn là cơ sở pháp lý duy nhất trong việc định danh tộc người ở nước ta. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, tên gọi tộc người đã và đang đặt ra những vấn đề cần được giải quyết. Gần đây, nhiều tờ báo đã phản ánh kiến nghị của một số cộng đồng đề nghị Nhà nước dùng lại các tên tự gọi của bản tộc. Bài viết dưới đây đặt lại vấn đề này dưới góc độ khoa học và pháp lý.

Sự lạc hậu và nhầm lẫn trong khái niệm tộc người

“Tộc người” (ethnic) là thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Hy Lạp, xuất hiện từ rất sớm, nhưng nội hàm của khái niệm này luôn có sự thay đổi trong trường kỳ lịch sử. Thậm chí, ngay trong cùng một thời điểm, ở những khu vực khác nhau, quốc gia khác nhau, các nhà khoa học cũng có những cách kiến giải khác nhau.

Một số nhà dân tộc học quan niệm, “tộc người là những nhóm người cố kết với nhau thông qua một di sản chung, bao gồm một ngôn ngữ chung, một văn hóa chung và quan trọng hơn là ý niệm về một tổ tiên chung hoặc quy định chế độ nội hôn. Một số khác lại cho rằng, đó là thuật ngữ dùng để chỉ “một nhóm người duy trì chung một đặc điểm sinh học, chia sẻ với nhau ký ức về một quê hương gắn với một khu vực địa lý, một ngôn ngữ và truyền thống chung, bao gồm cả phương thức mưu sinh và niềm tin tôn giáo chung”.

Du khách và người dân lên Tháp trong ngày Hội Ka tê của đồng bào Chăm Ninh Thuận.
Du khách và người dân lên Tháp trong ngày Hội Ka tê của đồng bào Chăm Ninh Thuận.

Sự khác nhau trong cách kiến giải về khái niệm tộc người cũng là điều dễ hiểu, bởi mỗi ngành khoa học, mỗi thế hệ khoa học đều có giác độ và phương pháp tiếp cận khác nhau. Nhưng quan trọng hơn, xuất phát từ nhu cầu nội sinh cũng như tác động của các yếu tố bên ngoài, bản thân các tộc người luôn vận động/biến đổi và không có bất cứ trạng thái nào của tộc người được coi là tuyệt đối “nguyên thể”.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “tộc người” (ethnic) thường được gọi theo một cách phổ biến hơn là “dân tộc” (trong tiếng Việt, “dân tộc” còn có thể được hiểu theo nghĩa là “quốc gia”/nation). Một thời gian dài, các nhà dân tộc học và ngôn ngữ học theo trường phái Xôviết thường áp dụng các tiêu chí của Stalin để giải nghĩa cho nội hàm của khái niệm “dân tộc”/ethnic: “Dân tộc là một khối cộng đồng người ổn định, được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lí, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa”.

Vận dụng các tiêu chí trên đây để giải thích cho khái niệm tộc người là sự nhầm lẫn rất đáng tiếc, bởi lẽ, phạm trù mà Stalin đề cập đến là “dân tộc/quốc gia” (nation) chứ không phải là các cộng đồng tộc người (ethnic).

Theo quan điểm của Stalin, các từ điển tiếng Việt hiện nay luôn định nghĩa dân tộc/ethnic là “Tên gọi chung những cộng đồng người có chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc”.

Tuy nhiên, hiện tại không chỉ ở nước ta mà ngay cả trong phạm vi châu Á, nội hàm của khái niệm tộc người như trên rõ ràng là không hoàn toàn chính xác, ít nhất là xét theo tiêu chí về lãnh thổ và đời sống kinh tế. Trải qua thăng trầm lịch sử, tình hình phân bố và trạng thái kinh tế - xã hội của các cộng đồng tộc người đã có rất nhiều thay đổi.

Trên thực tế, từ lâu tuyệt đại bộ phận các tộc người Việt Nam (và châu Á nói chung) đã không có lãnh thổ riêng với 3 lý do chính: 1) Một số tộc người bị chia cắt bởi các đường biên giới quốc gia; 2) Tình trạng xâm cư/xen cư lẫn nhau diễn ra rất phổ biến; và 3) Di dịch cư (tự do hoặc có tổ chức) của các bộ phận tộc người. Ngay cả ở những khu vực mà các hình thức nhà nước sơ khai đã hình thành như Tây Bắc, tình trạng xen cư/chia sẻ không gian sống giữa nhiều tộc người vẫn là đặc điểm nổi trội.

Trong bối cảnh hiện nay, khi mà tình trạng xen cư ngày càng trở nên phổ biến, quá trình di cư của thành viên các tộc người diễn ra ngày một mạnh mẽ, các tiêu chí về lãnh thổ và kinh tế gần như trở nên vô nghĩa. Đối với các bộ phận của một tộc người nhưng đang phân bố ở các quốc gia, các vùng lãnh thổ khác nhau, thậm chí ngay cả các tiêu chí về ngôn ngữ và văn hóa cũng trở nên lạc hậu. Điều duy nhất luôn có ý nghĩa và sức sống mãnh liệt chính là ý thức tự giác tộc người thể hiện qua tên tự gọi và ý niệm về một tổ tiên chung.

Sự ngộ nhận của các nhà khoa học 

Trên thế giới, hiện chỉ có 3 quốc gia thực hiện công tác xác minh thành phần tộc người là Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Tất cả các quốc gia khác đều tôn trọng tên tự gọi của các bộ lạc, bộ tộc hoặc tộc người. Ở nước ta, hiện nay có tới hơn 170 nhóm tộc người có tên tự gọi riêng. Một số nhóm tuy có cùng nguồn cội hoặc ngôn ngữ gốc, nhưng có tên tự gọi hoàn toàn khác nhau (Cao Lan và Sán Chí; Phù Lá và Lão Va Xơ; Tà-ôi, Pa-hi và Pa-cô; Xơ-đăng và Ca-dong,…).

Dựa trên các tiêu chí về ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác (thể hiện qua tên tự gọi), những năm 70 của thế kỷ trước, các nhà khoa học xã hội đã tiến hành một cuộc điều tra nhằm xác minh thành phần tộc người (ethnic). Kết quả của cuộc điều tra đó chính là cơ sở khoa học để Tổng cục Thống kê ban hành Quyết định 121 vào năm 1979, trong đó có những trường hợp nhiều nhóm có tên gọi riêng vẫn được gộp với các nhóm khác thành một tộc người.

Vẫn với những tiêu chí cũ, những năm đầu thế kỷ XX, Viện Dân tộc học (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã chủ trì thực hiện một đề tài nghiên cứu nhằm xác minh lại thành phần tộc người. Đề tài này đã được nghiệm thu năm 2006 nhưng đến nay kết quả vẫn chưa được công bố. Kết quả đề tài cũng không hoàn toàn thừa nhận tên tự gọi của tất cả các nhóm tộc người.

Điều đó cũng có nghĩa rằng, các nhà khoa học xã hội Việt Nam đã tự cho mình một cái quyền rất lớn là tước bỏ tên tự gọi của một số nhóm tộc người, buộc họ phải mang một tên mới, trong một thành phần tộc người mới. Chính điều đó đã dẫn đến sự bất bình của một số nhóm tộc người đang sinh sống ở miền núi phía Bắc, Trường Sơn và Tây Nguyên.

Lễ vật cúng trong Hội Ka tê, người Chăm Ninh Thuận.
Lễ vật cúng trong  Hội Ka tê, người Chăm Ninh Thuận.

Một trong những tộc người phản ứng mạnh mẽ nhất là cộng đồng Pa-cô đang sinh sống tại các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Được các nhà khoa học xác định là có quan hệ ngôn ngữ/lịch sử chặt chẽ với người Tà-ôi, năm 1979, người Pa-cô được nhà nước gộp vào với người Tà-ôi và Pa-hi thành một tộc người có tên gọi chung là Tà-ôi. Với lý lẽ: “Tôi có tên của tôi, tại sao bắt tôi mang tên của người khác?”, từ nhiều năm nay người Pa-cô vẫn kiên trì theo đuổi nguyện vọng được tách ra thành một tộc người riêng. Trước sức ép đó, năm 2011, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế đã hoàn thành đề án “Bổ sung dân tộc Pa-cô vào danh mục các dân tộc Việt Nam” để đệ trình Chính phủ.

Tình hình tương tự cũng diễn ra đối với người Ca-dong ở tỉnh Quảng Nam. Là cộng đồng người có tới 29.000 nhân khẩu, có ý thức về nguồn cội riêng, ngôn ngữ riêng và phong tục tập quán riêng, nhưng từ năm 1979, họ được gộp vào với người Xơ-đăng trong một thành phần tộc người. Năm 2012, UBND tỉnh Quảng Nam đã hoàn thành hồ sơ đề nghị công nhận Ca-dong là một thành phần tộc người riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, nguyện vọng của người dân ở các địa phương đó vẫn chưa được đáp ứng bằng các quyết định của Chính phủ.

Tất cả các bản Hiến pháp đã ban hành dưới chính quyền dân chủ nhân dân đều thừa nhận các tộc người là đồng chủ thể quốc gia, có quyền bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Khoản 3, Điều 5 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (năm 2013) chỉ rõ: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Trên thực tế, không có một “tiếng Tà-ôi” chung cho cả 3 nhóm Tà-ôi, Pa-hi và Pa-cô; cũng không có một “tiếng Xơ-đăng” chung cho cả người Xơ-đăng và Ca-dong.

Ở nhiều tộc người khác theo cách định danh của Nhà nước hiện nay cũng diễn ra tình trạng tương tự. Mỗi tên tự gọi luôn gắn với một ngôn ngữ riêng, và rộng hơn, là một nền văn hóa riêng. Chính vì vậy, kiến nghị của các nhóm tộc người về việc duy trì tên tự gọi của mình không chỉ phù hợp với xu thế khoa học hiện đại, phù hợp với quyền con người được quy định trong các công ước quốc tế, mà còn hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp hiện hành của nước ta.

Việc gộp các nhóm cộng đồng có tên tự gọi khác nhau vào một thành phần tộc người, không chỉ làm mất đi tính chính danh của các chủ thể văn hóa mà còn có thể khiến cho những nỗ lực của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách dân tộc ít nhiều mất đi ý nghĩa nhân văn.

TS. Mai Thanh Sơn (Viện Khoa học xã hội vùng Trung bộ)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).