Bàn thêm về hai chữ "Thổ Châu" và "Thổ Chu"

Báo Văn nghệ Công an số 245 ra ngày 6/4/2015 có đăng bài: "Về tên khai sinh của quần đảo cực Tây Nam Tổ quốc: "Châu" hợp lý hơn "Chu"". Tác giả đã lý giải việc dẫn đến hai tên gọi khác nhau của hòn đảo trên là Thổ Châu và Thổ Chu và mô tả cách viết của 2 chữ là: "chu" (có 6 nét bộ mộc),  "châu" (có 10 nét, bộ ngọc) và tên hòn đảo trên là "châu" thì hợp lý hơn "chu".

Ở đây tôi xin trao đổi thêm về cách gọi địa danh này và dùng lại cách mô tả hai chữ trên của chính tác giả.

Trước tiên xin nói đến cách ghi tên hòn đảo trên bằng chữ Hán đã được Trịnh Hoài Đức ghi trong "Gia Định thành thông chí", đó là chữ "10 nét, có bộ ngọc" (có nghĩa là viên ngọc trai) mà tác giả bài viết đọc là "châu", được Trịnh Hoài Đức viết sau khi vua Nguyễn Phúc Ánh, có niên hiệu Gia Long, đã ổn định về mặt hành chính của đất nước, là đáng tin cậy.

Vấn đề còn lại là cách đọc chữ này. Về cách đọc chữ Hán cổ khá phức tạp. Người ta có thể dùng lối "phiên thiết" (một quy tắc trong đọc chữ Hán cổ) hoặc đọc theo thói quen (nhân tuần). Đó cũng là cách các nhà làm từ điển thường sử dụng khi phiên âm các chữ Hán. Ta cũng cần để ý rằng các từ điển khác nhau có thể đưa ra các cách đọc không hoàn toàn giống nhau. Theo lối "phiên thiết" ta đọc được chữ "có 10 nét, bộ ngọc" là "châu", đồng thời cũng còn đọc là "chu" và trên thực tế người ta đều đọc chữ đó theo cả hai cách.

Ví dụ: Xã Châu Lâm ở phủ Hà Hoa, Nghệ An, chữ "châu" là chữ "có 10 nét, bộ ngọc" (giống với chữ ta đã nói ở trên). Nhưng thôn Chu Khê ở phủ Tĩnh Gia, chữ "Chu" ở đây cũng chính là chữ "có 10 nét, bộ ngọc" mà trên ta vừa đọc là châu. Ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ khác nữa trong các sách như: "Các tổng trấn xã bị lãm" hay "Đồng Khánh địa dư chí" mà Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã biên dịch.

Ngay sách "Gia Định thành thông chí" khi phiên âm "Thổ Châu dữ", dịch giả cũng rất cẩn trọng ghi rõ là: "Đảo Thổ Châu (Chu)" có nghĩa là có thể đọc là "châu", đồng thời cũng có thể đọc là "chu". Hay khi phiên âm một địa danh khác là "(Châu) Chu Nham" thì "châu", "chu" ở đây chính là chữ "10 nét, có bộ ngọc". Cũng xin nói thêm chữ "có 6 nét, bộ mộc" mà tác giả đọc là "chu" cũng có 2 cách đọc "châu" và "chu" nhưng xin không bàn đến ở đây.

Tóm lại, tên hòn đảo trên đã được nhà nước trước đây chính thức ghi lại bởi ký tự như đã mô tả trên là chữ "10 nét, có bộ ngọc" và chữ đó được đọc theo cả hai cách "hợp pháp" là "châu" và "chu". Tuy nhiên, trước đây có thể kỵ húy nên người ta thường đọc là "châu" mà không đọc là "chu", nên nay đọc là "châu" hay "chu" đều đúng cả và việc đọc còn tùy thuộc ở thói quen nữa. Nhưng văn bản hành chính của ta, bản đồ đã in của ta cũng đã ghi cách đọc là "chu", vậy không nên thay đổi lại nữa. 

Trần Nghiễm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.