"Bàn tay" một cách giải cổ mẫu

Ngoài một huyền thoại về Phật còn là huyền thoại về bàn tay của con người cũng vĩ đại như vũ trụ. Câu chuyện đã gần ngàn năm thế mà lại thành sự thật trong thời cách mạng 4.0: bàn tay con người sẽ tạo ra cả một vũ trụ mới! Thì ra một giá trị văn hóa cổ điển sẽ trở thành kinh điển để đúng với mọi thời.

Mở đầu "Tây du ký" huyền thoại tác giả Ngô Thừa Ân để cho Tôn Ngộ Không dù thần thông biến hóa có phép "cân đẩu vân" thoắt không gian này đã ở không gian kia cách nhau hàng vạn dặm thế mà vẫn không bay thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ. Thậm chí bay mãi, tưởng đã đến cuối chân trời Ngộ Không bèn viết vào núi đá đánh dấu Đại Thánh đã từng đến đây, té ra đó là ngón tay của Phật Tổ. 

Ngoài một huyền thoại về Phật còn là huyền thoại về bàn tay của con người cũng vĩ đại như vũ trụ. Câu chuyện đã gần ngàn năm thế mà lại thành sự thật trong thời cách mạng 4.0: bàn tay con người sẽ tạo ra cả một vũ trụ mới! Thì ra một giá trị văn hóa cổ điển sẽ trở thành kinh điển để đúng với mọi thời.

Văn chương để đời phải có tư tưởng. "Tây du ký" sẽ bất tử vì có tư tưởng ca ngợi sức mạnh kỳ diệu của con người. Không phải là so sánh với một tác phẩm vĩ đại mà nói về hình tượng thì câu thơ của Hoàng Trung Thông cũng sẽ bất tử vì có tư tưởng lớn: "Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm". 

"Bàn tay" ở đây là ẩn dụ cho sức mạnh lao động của con người sẽ biến cái vô ích (sỏi đá) thành cái có ích (cơm). "Cơm" ở đây còn chỉ thành quả lao động, kết quả kỳ diệu của lao động. Đây là một chân lý phổ quát cho bất cứ ai: muốn có thành quả thì phải lao động!

Cây đại thụ văn hóa Phật giáo bén rễ vào mảnh đất giàu tình thương nên nhanh chóng nảy mầm và lớn thành cây Phật giáo Việt Nam vừa mang tính bản nguyên  vừa đậm đà bản sắc Việt. Người thường chúng ta chỉ có hai mắt hai tay. Tượng Phật nghìn mắt nghìn tay là đạo lý cứu độ tuyệt đối. Có nghìn mắt để nhìn thấu nỗi khổ trầm luân của chúng sinh, có nghìn tay để cứu vớt con người khỏi bể khổ. Quả là triết lý của hệ thống minh triết Việt sâu sắc và bao dung nhân ái!

Bàn tay là một hình tượng nghệ thuật hoán dụ đến mức ám ảnh. Đấy là chuyện "Sự tích Sao Hôm, Sao Mai". Ngày xưa, ở làng kia có hai anh em trai mồ côi cha mẹ. Em còn nhỏ dại nên anh không quản khó nhọc, làm lụng nuôi em. Họ quấn quýt bên nhau, đi đâu cũng không rời một bước. Người anh lấy vợ, tình cảm anh em vẫn thắm thiết như xưa. Cả nhà họ thuận hoà, vui vẻ. 

Thế rồi người anh phải đi lính có dặn em phải trông nom chị dâu cho cẩn thận. Càng thương anh nên càng sợ mất chị, người em bèn khoét một lỗ trên vách, đêm đêm luồn tay sang buồng đặt lên bụng chị mà canh giữ. Nào ngờ ít lâu, chị dâu có mang. Người em sợ liền bỏ trốn biệt tích. Cứ theo đường mòn đi về phía mặt trời lặn, đi mãi, đi mãi đến khi người em trèo lên ngọn núi cao thì kiệt sức, gục xuống...

Người anh trở về, dù cho vợ phân bua trình bày hết lẽ nhưng vẫn rất giận em. Cho đến khi người vợ chuyển dạ rồi đẻ ra một cái bàn tay. Lúc đó mới biết người em vô tội, người anh vội vã bỏ nhà đi tìm. Cứ đi về phía mặt trời mọc, đi mãi, đi mãi, đến một đỉnh núi cao, vì mệt nhọc, đói khát, vì ân hận, vì thương nhớ em, người anh gục xuống giữa lúc bình minh ló rạng.

Không thấy chồng và em trở về, người vợ cũng lên đường đi tìm. Đi mãi, đi mãi, một thân một mình, qua hết núi này đến núi nọ, đến khi không bước nổi nữa, chị gục xuống... 

Từ đó, cứ vào cữ hoàng hôn, hồn người em lại cô đơn trên ngọn núi phía Tây thảng thốt nhìn về. Linh hồn tội nghiệp ấy hiện hình thành ngôi Sao Hôm. Hồn người anh kết thành ngôi Sao Mai, cứ nghe gà gáy là thức dậy mọc ở đầu núi Đông bàng hoàng tìm em. Hồn người chị dâu đêm đêm cứ băng từ nơi này qua nơi khác giữa bầu trời mênh mông, thỉnh thoảng ngơ ngác thất thần dừng lại như hỏi đường rồi lại lao chạy như bay. Đó là sao Vượt. Còn bàn tay thì thành sao Rua như mở ra để mong đón lấy ba linh hồn đang bơ vơ giữa trời... Các ngôi sao ấy lúc nào cũng thổn thức lấp láy như muốn được về gần bên nhau!

Kết cấu câu chuyện thì khép lại nhưng mở ra một không gian ý nghĩa ánh sáng của dải ngân hà thế giới tình người. Các vì sao muôn đời vẫn sáng để chứng minh tình nghĩa anh em, tình nghĩa vợ chồng không bao giờ tắt!

Hẳn nhiên hình tượng bàn tay là cái chìa khóa của câu chuyện. Vì sao lại là bàn tay? Còn sự vật nào gìn giữ, nâng niu tốt hơn bàn tay đâu. Người Việt nói: "Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa" thì động tác "nâng" và "hứng" đầy sự trân trọng ấy là nói đến bàn tay! Thế nên bàn tay ấy của người em là bàn tay nâng niu, gìn giữ!

Nhưng ở đời sự nâng niu, quý trọng, gìn giữ còn phải biết cách. Nếu không sẽ làm tổn thương người khác. Đến tận hôm nay ta vẫn thấy có những anh chồng quý vợ mà giữ vợ đến mức vô lối, rồi ghen tuông vô lối. Không mới. Đã có trong truyện cổ tích sao Hôm, sao Mai xửa xưa rồi. Yêu thương sai cách mà với người em, từ bàn tay nâng niu gìn giữ thành bàn tay tội lỗi!

Của cho chưa quan trọng bằng cách cho. Yêu chưa quan trọng bằng cách yêu!

Người em quý chị, giữ chị đã chọn sai cách nên gây ra hậu quả: chị dâu có mang. Dĩ nhiên không thể đẻ ra con mà phải đẻ ra bàn tay là đúng với lôgich hình tượng. Ba cái chết đau khổ đầy bi kịch ấy lại tỏa sáng ý nghĩa về tình anh em, nghĩa vợ chồng sẽ sáng mãi ánh sao! Còn hình tượng nào đẹp hơn đâu?

Trong câu chuyện thì người em ngược về hướng Đông, người anh ngược về hướng Tây. Đấy còn là lời khuyên người ta cố gắng mà hiểu nhau, dù phải mất thời gian kẻo không hiểu nhau sẽ đi ngược đường nhau!

Ở nền văn hóa nào cũng vậy, ngôn ngữ bàn tay là thứ ký hiệu mang thông điệp rõ ràng nhất. Chỉ có ở thời đại dịch COVID người ta mới không thể bắt tay nhau còn trong thông lệ ngoại giao sự bắt tay là cầu nối cho mối quan hệ thân tình. Cự tuyệt bắt tay nhau, không chỉ là sự hẹp hòi, không lịch sự, còn là sự thiếu văn hóa, thiếu tôn trọng con người. 

Tại sao lại bắt tay nhau? Nguyên thủy có từ thời con người còn sống trong trạng thái dã man, đó là hành động của hai sứ giả của hai bộ tộc gặp nhau để trao đổi, cả hai phải giơ tay lên để báo hiệu mình không có vũ khí. Dần dần trở thành cái bắt tay hữu nghị như sau này. 

Đến nay, các Tổng thống Mỹ khi tuyên thệ thì một tay phải giơ lên (để chào, để tuyên bố (ngầm) về sự vô tư, trong sáng, trong sạch), tay trái đặt vào cuốn "Kinh Thánh". Tại sao vậy? "Kinh Thánh" là biểu tượng đa nghĩa trong văn hóa phương Tây nhưng đại để đó là lẽ phải, là chân lý, là sáng suốt...Tay trái lại liên quan tới quan niệm "tĩnh mạch của tình yêu" (Vena Amoris - tiếng La tinh cổ) của người La Mã cổ đại thuộc về tay trái. Nhưng ngày nay khoa học y học lại chứng minh điều ấy đúng. 

Ngón tay đeo nhẫn, ngoài chứng minh một tình yêu mạnh mẽ, dào dạt và quý giá như máu thì ngón này có một tĩnh mạch chạy thẳng tới tim nên còn là cách bảo vệ sức khỏe, tăng cường sức mạng cho cơ tim! Khoa học còn khuyên đeo nhẫn bạc tốt hơn vàng vì bạc có công năng bảo vệ ngoại cảnh mạnh hơn.

Người Việt có câu "Tay bắt mặt mừng". Tinh tế lắm! Bàn tay quý hóa chỉ để thân thiết, yêu thương. Tất cả gia tài của cải đều thể hiện nơi bàn tay: "Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay". Người nào khởi nghiệp chưa có gì thì gọi là "Hai bàn tay trắng" đầy sự lạc quan, tin tưởng, vì nếu khéo "Tay chèo tay chống" sẽ "Tay trắng làm nên". "Tay" quý giá như vậy nên dân gian chê kẻ vũ phu "Thượng cẳng chân, hạ cẳng tay", tức là người không tốt hoặc trong lúc mất lý trí thì không biết cách dùng bàn tay mà lại là "cẳng tay" !!!

Bàn tay là một hoán dụ chỉ người gần gũi, dễ hiểu mà sâu sắc. Nói về một gia đình, một tập thể, một cộng đồng có nhiều cá tính, người thế này người thế khác, không câu nào (so với các ngôn ngữ khác) hay hơn: "Bàn tay có ngón ngắn ngón dài". Ý ở ngoài lời. Phải hiểu bàn tay mười ngón dài ngắn khác nhau nhưng đều hợp lại nơi bàn tay (tức sự đoàn kết gắn bó máu thịt).

Hơn cả một hoán dụ của ngôn ngữ tự nhiên, hình tượng bàn tay vươn tới một biểu tượng mã hóa của cả đời một người: "Bàn tay gà bới thì khó/ Bàn tay chó bới thì giàu". "Gà bới" thì đường nét lung tung, sâu nông bất kể. "Chó bới", vì ít móng lại sắc nên đường bới ít, sâu, rõ ràng. Theo quan niệm dân gian người nào đường chỉ tay "gà bới" thì nghèo, vất vả. Ngược lại đường chỉ tay "chó bới" thì giàu sang, phú quý. Có thật không, hạt nhân duy vật ở đâu? Xin bàn đến vào dịp khác!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).