Bản dịch “Cổ Duệ từ” trọn vẹn: Trăng in dưới nước

“Cổ Duệ từ” của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (1819-1870) là từ tập duy nhất hầu như còn nguyện vẹn tới nay, với đầy đủ đặc trưng về phong cách từ uyển ước. Nhân dịp bản dịch trọn vẹn “Cổ Duệ từ” phát hành (2020), chúng tôi có cuộc trò chuyện cùng Thạc sĩ Nguyễn Quang Duy, người chuyển ngữ sang quốc âm toàn bộ tác phẩm này.

- TS Phạm Văn Ánh (Viện Văn học) từng viết, “Cổ Duệ từ” hiện không thấy trong các kho tư liệu Hán Nôm, có phần chắc là đã mất. Vậy cơ duyên nào đã khiến ông tiếp cận được với “Cổ Duệ từ”?

+ “Cổ Duệ từ” là “từ tập” khá dày dặn, còn tương đối nguyên vẹn nhưng chưa tìm thấy trong các kho tư liệu ở Việt Nam, ngoài 14 bài đã được ông Phan Văn Các năm 1999 dịch ra từ cuốn “Vực ngoại từ tuyển”, tuyển tập sáng tác từ chữ Hán của các tác giả ngoài Trung Quốc (TQ). 

Tôi chú ý đến “từ tập” này khoảng năm 2011 khi đọc bài viết của ông Trần Nghĩa “Cổ Duệ từ” của Miên Thẩm dưới dạng toàn vẹn của nó” đăng trên Thông báo Hán Nôm học năm 2001. Trong bài viết, ông Trần Nghĩa mô tả đã tiếp cận và chép lại từ tập này khoảng “cuối thập niên 60 của thế kỷ trước” khi ông du học ở Trung Quốc, cũng như đã dịch một phần lời bạt của Dư Đức Nguyên viết khi gửi bản thảo chép tay “Cổ Duệ từ” đến tạp chí Từ học quý san (THQS) để công bố. 

Như vậy, hai nguồn thông tin nói trên đều chỉ dẫn đến một địa chỉ là các xuất bản phẩm của tạp chí THQS, một tạp chí chuyên về “từ học” tồn tại từ năm 1933 đến năm 1936 tại Thượng Hải (TQ). Trong môi trường khá cởi mở về học thuật, tôi truy cập vào kho chia sẻ tư liệu trên các trang mạng về khoa học xã hội của Trung Quốc và đã tìm được toàn bộ bản scan các số tạp chí nêu trên dưới dạng file PDF. “Cổ Duệ từ” được in trong số thứ 2 của năm 1936 với 104 đề mục và trọn vẹn lời bạt.

Dịch giả Nguyễn Quang Duy. Tác phẩm “Cổ Duệ từ”.
Dịch giả Nguyễn Quang Duy. Tác phẩm “Cổ Duệ từ”.

- Bản dịch này cho thấy sự công phu của ông. Đó là, đối với mỗi bài, ông đưa nguyên văn chữ Hán, phiên âm tiếng Việt (ngắt câu phân phiến), rồi dịch nghĩa, chú thích mỗi bài đều có phần dịch theo nguyên điệu. Xin được hỏi, công việc này đã tiêu tốn của ông bao lâu thời gian?

 + Từ năm 2011 có trong tay bản “Cổ Duệ từ”, tôi tiến hành khảo sát và thấy một số điểm như sau:

Thứ nhất, “Cổ Duệ từ” trên THQS được in dưới thời Dân quốc (TQ), cách trình bày một bài từ và ký hiệu ngắt câu (cú, đậu) khác so với tư duy thời nay. Vì vậy, đối với từng bài, tôi đã căn cứ trên “Khâm định từ phổ” đời Thanh, “Đường Tống từ cách luật” của Long Du Sinh (TQ) để gõ lại nội dung bằng chữ Hán, ngắt câu, phân phiến cho phù hợp. Quá trình đó giúp tôi phát hiện được các thiếu sót, dị biệt và đưa ra một số nhận định.

Thứ hai, nội dung các bài từ phần lớn gắn với những sinh hoạt thường nhật của Tùng Thiện vương, đề cập đến những sự kiện, địa danh và nhân vật có thật như: Miên Trinh, Miên Khoan, Quý Khanh, phò mã Khắc Trai, Cao Bá Quát, Hạc Nô… Đây là một khó khăn cho người dịch nếu không nắm rõ được về bối cảnh sáng tác. Bởi vậy, tôi tham khảo “Nguyễn Phúc tộc thế phả”, “Đại Nam liệt truyện”, “Đại Nam thực lục”…, cố gắng tìm hiểu những vấn đề liên quan.

Thứ ba, Tùng Thiện vương Miên Thẩm là một bậc thi ông, thi bá của nhà Nguyễn, học rộng các sách, nên ngôn ngữ rất hàm súc, uyên bác, sử dụng nhiều điển tích, điển cố; do đó nếu sơ suất, không tra cứu, chú thích kỹ sẽ dẫn tới không hiểu hết, hoặc không làm sáng tỏ được các tầng lớp ý tứ mà tác giả đã gửi gắm.

Thứ tư, từ tại Việt Nam còn khá xa lạ, không có tính phổ biến như thơ. Vì

Dịch giả Nguyễn Quang Duy sinh năm 1981, Thạc sĩ Kinh tế, hiện công tác trong ngành Ngân hàng. Ông đồng thời tham gia giảng dạy về thư pháp tại Nhân Mỹ học đường (Hà Nội)... 

vậy, tôi tìm đọc bản dịch lục bát và nguyên điệu của các tiền bối như ông Nguyễn Xuân Tảo, Nguyễn Chí Viễn, Phan Văn Các… và một số bài từ Nôm của Phạm Thái (Lê mạt) để chọn lựa cách dịch sao cho độc giả dễ tiếp cận nhất với ngôn ngữ của thể loại.

Từ những điểm nêu trên, song song với quá trình tự trau dồi thêm về kiến thức về Hán Nôm, tôi đã thử nghiệm dịch theo nguyên điệu từ năm 2011, để hoàn thiện được bản dịch 104 đề mục trong “Cổ Duệ từ” vào đầu năm 2019.

-  Qua bản dịch trọn vẹn “Cổ Duệ từ” đã cho người đọc biết thêm về tài năng văn chương của một bậc thi ông trên văn đàn nhà Nguyễn: Bạch Hào Tử - tức Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Ông có cho rằng, tài năng văn chương của Tùng Thiện Vương đúng với lời truyền tụng: “Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường”?

+ Câu trên tương truyền của vua Tự Đức khen về tài năng làm “thi” của Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương, còn từ thì đương thời vẫn có tư duy “thi tôn từ ti” (thơ tôn quý, từ thấp kém), coi từ chỉ là thể loại văn học “diễm khoa” làm ảnh hưởng đến việc tu dưỡng đạo đức của nhà Nho. 

Dẫu là như thế, qua nội dung “Cổ Duệ từ” và lời tựa “từ tập” do chính Tùng Thiện Vương viết, cho thấy trên nền tảng chung Hán học rất thâm sâu của vương, thêm vào đó là cuộc sống an nhàn, đầy đủ và không gian giao lưu xướng họa sôi nổi giữa các hoàng thân, văn nhân ở Huế, đã tạo môi trường thuận lợi để vương dành nhiều tâm huyết cho thể loại văn học này. 

Tùng Thiện Vương rất chú ý đặt mua, sưu tầm các sách “Túy biên”, “từ tập” cổ kim và nhanh chóng cập nhật về các “từ phái” tại nhà Thanh đương thời khiến cho ngôn ngữ từ của vương đạt tới mức điêu luyện của “từ phái” uyển ước. 

Thành tựu về từ của Tùng Thiện Vương đã khiến cho những người TQ như Lương Sằn Dư thích thú chép lại để lưu giữ, nhà “từ học” tên tuổi của TQ là Hạ Thừa Đảo dành những lời khen ngợi. Có thể thấy, tài năng “điền từ” của Tùng Thiện Vương thậm chí đã được chứng minh ở “xứ người”, trên quê hương của từ.

Tác phẩm “Cổ Duệ từ”.
Tác phẩm “Cổ Duệ từ”.

- Trở lại với ý kiến của TS Phạm Văn Ánh đã nêu ở trên về việc biến mất của các tác phẩm Hán Nôm của nhiều danh gia nước Việt, hoặc như ông đọc “Cổ duệ từ” lại ở Từ học quý san, chứ không phải ở một kho sách Hán Nôm nào trong nước. Ông có buồn phiền về thực trạng này không?

+ Đối với các thư tịch Hán Nôm nói chung, tôi lấy làm tiếc vì hiện trạng mất mát nhiều do con người, do thiên tai địch họa. Có những sách hiện chỉ tìm được ở các thư viện ngoại quốc. Tôi nghĩ rằng, cần tiếp tục sưu tầm rộng trong và ngoài nước để kịp thời gìn giữ và phát huy các giá trị từ những tư liệu đó.

- Sau bản dịch 14 bài của PGS Phan Văn Các trong “Cổ duệ từ” với tên gọi “Khúc hát gõ mái chèo” (1999), đến bản dịch trọn vẹn của ông năm 2020 này. Mỗi bản dịch như ngón tay chỉ trăng. Có người đã chia sẻ như vậy. Trong trường hợp có một bản dịch trọn vẹn khác ra đời, ông hào hứng đón chờ chứ?

+ Tôi lại nghĩ thế này, “Cổ Duệ từ” bản chữ Hán là “trăng” - cái thường hằng, đương nhiên các bản dịch từ sang quốc âm sẽ chỉ là “trăng in dưới nước” (thủy nguyệt), khó phản ánh đầy đủ diện mạo chân thực. 14 bài chữ Hán in trong “Vực ngoại từ tuyển” vốn có một số sai sót về mặt chữ và ngắt câu theo cách luật so với nguyên bản đăng trên THQS. Vì vậy, tôi thấy cần so sánh giữa 2 bản, cũng như tham khảo 9 bài trong “Nhạc phủ thám châu” để có bản chữ Hán chính xác hơn cả, trước khi bắt tay vào dịch.

Đối với tôi, ngay sau khi đã xuất bản bản dịch “Cổ Duệ từ”, tôi vẫn tiếp tục phát hiện thêm nhiều điểm mới liên quan đến bối cảnh sáng tác các bài từ, đồng thời nhận ra một số thiếu sót do nhận thức của cá nhân tôi tại thời điểm dịch. Tôi hy vọng sau này sẽ có điều kiện hoàn thiện thêm bản dịch và hệ thống chú thích để độc giả hiểu hơn nữa về từ tập này. Trong trường hợp có một bản dịch trọn vẹn khác ra đời, tôi nghĩ là một điều mừng vì chí ít “từ học” tại Việt Nam cũng đã được để ý đến. 

- Xin cám ơn những chia sẻ của ông.

Kiều Mai Sơn (thực hiện)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).