Bài thơ được khắc trên "Núi bài thơ" nói gí?

Lê Thánh Tông (1442-1497) tên thật là Lê Tư Thành, con trai thứ ba của vua Lê Thái Tông, mẹ là bà Phi Ngô Thị Ngọc Dao. Bà Ngọc Dao được bà Nguyễn Thị Lộ đưa từ quê Thái Bình lên. Lê Thái Tông lấy làm Phi, có mang, bị Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh âm mưu hãm hại. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cùng Đinh Liệt tìm mọi cách cứu bà Ngọc Dao, đem đi trốn, sau sinh Lê Tư Thành. Lê Tư Thành làm vua 38 năm (1460-1497), miếu hiệu là Thánh Tông.

Các tài liệu trước đây cho rằng bà Phi Ngọc Dao trốn ở chùa Huy Văn trong thành Thăng Long, rồi sinh hoàng tử Lê Tư Thành ở đó. Tuy nhiên, mới đây, các nhà nghiên cứu lịch sử lại công bố tư liệu rất đáng tin cậy về nơi sinh của hoàng tử Tư Thành chính là ở Thần Khê, Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

Thánh Tông là vua giỏi cả văn lẫn võ. Chính Lê Thánh Tông là người sáng lập Tao đàn, gồm 28 người giỏi văn chương thơ phú, thường gọi là “Tao đàn Nhị thập bát tú”, do chính nhà vua làm Chủ soái. Tác phẩm của Lê Thánh Tông gồm cả văn và thơ, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Văn, tiêu biểu có "Thập giới cô hồn" (Nôm) và thơ có tập "Thánh Tông di thảo" (Hán). Chúng tôi chọn giới thiệu một số bài thơ chữ Hán của thi sĩ vào loại hàng đầu thời Hồng Đức này.

lê thánh tông.jpg -0
Bức họa chân dung vua Lê Thánh Tông qua hội họa.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một trong những bài thơ hay của vua Lê Thánh Tông.

NGỰ CHẾ THIÊN NAM ĐỘNG CHỦ ĐỀ

(Quang Thuận cửu niên xuân nhại nguyệt, dư thân xuất lục quân duyệt binh vu Bạch Đằng giang thượng. Thị nhật phong hòa cảnh lệ, hải bất dương ba. Hoàng Hải tuần tuần An Bang chú sự vu truyền đăng sơn hạ, ma thuật đề thi nhất luật.)

Cự tẩm uông dương triều bách xuyên,
Loạn sơn kỳ bố bích liên thiên.
Tráng tâm sơ cảm hàm tam cổ,
Tín thủ dao đề tổn nhị quyền.
Thần Bắc khu cơ sâm hổ lữ,
Hải Đông phong toại tức lang yên.
Thiên Nam vạn cổ hà sơn tại,
Chính thị tu văn yển vũ niên.

Dịch nghĩa:

BÀI THƠ ĐỀ VÁCH NÚI CỦA THIÊN NAM ĐỘNG CHỦ

(Tháng 2 mùa xuân năm Quang Thuận thứ 9 (1468) ta thân chỉ huy sáu quân duyệt binh trên sông Bạch Đằng. Hôm ấy gió hòa cảnh đẹp biển không nổi sóng, ta vượt qua Hoàng Hải đi tuần An Bang, đóng quân ở dưới núi Truyền Đăng bèn mài đá đề một bài thơ)

Biển cả mênh mông, trăm dòng sông đổ vào,
Núi non la liệt như quân cờ, vách dựng lên trời xanh biếc.
ó chí lớn, lúc đầu mới cảm thông, vẫn phải theo người,
Nay một tay mặc sức tung hoành từ xa, quyền uy như thần gió.
ội quân hùng mạnh xúm xít quanh đức vua,
ùng Hải Đông làn khói báo chiến tranh đã tắt.
rời Nam muôn thuở núi sông vững bền,
hính là lúc sửa sang việc văn, tạm dẹp việc võ.

 Dịch thơ

Trăm sông về với biển Đông
Núi la liệt núi, trời trong xanh trời.
Chí cao, tạm nhún theo người,
Bây giờ thỏa sức biển khơi tung hoành.
Sáu quân hùng mạnh vây quanh,
Hải Đông làn khói chiến tranh tan rồi.
rời Nam muôn thuở xanh tươi,
Sửa việc văn, tạm gác thời binh nhung.

                                (VŨ BÌNH LỤC- dịch)

Lời đề từ của tác giả đã cho chúng ta thấy rõ xuất xứ bài thơ một cách rõ ràng và chính xác. Không còn việc gì để các nhà nghiên cứu đời sau phải bận tâm mày mò ước đoán, tranh cãi nữa. Điều này hoàn toàn khác với việc tìm hiểu thơ ca đời Lý-Trần, hoặc Nguyễn Trãi và thơ văn của nhiều tác giả khác ở thời kỳ trung đại Việt Nam...

Vua Lê Thánh Tông, xưng là THIÊN NAM ĐỘNG CHỦ, trực tiếp chỉ huy, đem binh hùng tướng mạnh (Sáu quân) tập trận trên sông Bạch Đằng, rồi ngài nhân khi bể lặng sóng êm, theo đó mà tuần du vùng Đông Bắc (An Bang). Cảm thấy trong lòng phấn chấn, phơi phới tự hào, nhà vua xúc cảm làm thơ, rồi cho mài đá khắc vào vách núi. Điều này diễn ra vào tháng 2, mùa xuân năm 1468, khi vị vua chí lớn này cầm quyền trị nước được 7 năm. Bấy giờ, việc nội chính đã ổn định, thế nước đã vững vàng. Bài thơ này được khắc vào đá núi TRUYỀN ĐĂNG ở Hạ Long. Ngọn núi danh tiếng này, ngày nay quen gọi là NÚI BÀI THƠ, một thắng cảnh mang màu sắc tâm linh rất hấp dẫn…

Hai câu thơ mở đầu tả khái quát quang cảnh vùng biển Đông Bắc (Hải Đông), miền biên cương có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng, cả về kinh tế và an ninh quốc phòng. Núi non trùng điệp, sông nước biển cả mênh mang hùng vĩ.

Hai câu 3&4, tóm lược quá trình đi tới việc nắm trọn quyền lực trong tay, tiến hành thực hiện cái chí lớn “kinh bang tế thế” chuyển xoay vũ trụ của mình. Có thể hiểu nội dung câu thơ thứ 3, rằng “Có chí lớn, lúc đầu mới cảm thông, vẫn phải theo người”. Vậy là thế nào? Chẳng phải Lê Tư Thành (sinh năm 1442) chính là con trai của bà Phi Ngô Thị Ngọc Dao đấy ư? Chẳng phải Bà Ngọc Dao bị Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh mưu toan mượn tay vua Lê Thái Tông khép bà vào tội chết (voi dày), ngay cả khi bà đang mang thai hoàng tử Tư Thành, để cho Bang Cơ, con riêng bí mật của bà độc chiếm ngôi Thái tử đó sao?

Được vợ chồng Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ cùng ông Đinh Liệt cứu thoát, bà Ngọc Dao được đưa về Thần Khê và sinh hoàng tử Lê Tư Thành ở đó. Chính sử thì chép rằng bà Ngọc Dao được đưa ra chùa Huy Văn và sinh nở tại đó. Ngày nay có đủ tư liệu để thấy rằng, chùa Huy Văn ở Thăng Long chỉ là nơi tạm trú ban đầu, sau bà được bí mật đưa về Thần Khê (Hưng Hà, Thái Bình), rồi sinh hoàng tử Lê Tư Thành ở đó.

Vụ tẩu thoát này có sự giúp đỡ của Đinh Liệt. Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cùng phe nhóm bày mưu kế vô cùng hiểm độc, giết vua Lê Thái Tông và đồng thời khép tội cực lớn, giết hại cả ba họ đại công thần khai quốc Nguyễn Trãi (Tru di tam tộc) để trả thù. Đó chính là cội nguồn thảm án oan khốc chưa từng có trong lịch sử, thảm án LÊå CHI VIÊN, xảy ra vào tháng 8 năm Nhâm Tuất (1442) tại hành cung ở xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Giết vua, giết cả ba họ Nguyễn Trãi. Kịch bản hoàn hảo rồi, nhưng bà Ngọc Anh sau đó còn giết luôn cả một số đại quan và thái giám, những người trực tiếp tham gia nên biết rõ bản chất của vụ án tày trời này. Giết người diệt khẩu, đồng thời bịt luôn bí mật về đứa con riêng đang làm Thái tử, sau lên làm vua (Lê Nhân Tông) của bà với Lê Nguyên Sơn. Sau đó, Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh còn giết luôn cả người tình Lê Nguyên Sơn, để bịt kín tất cả các khe hở của âm mưu thâm độc giành chính quyền và bảo vệ chính quyền mà bà che rèm làm nhiếp chính khi Bang Cơ còn nhỏ tuổi. Cho dù sử sách đương thời và những ai đó có ra sức biến báo biện bạch thế nào chăng nữa, cố tình làm méo mó sự thật lịch sử, thì thực chất vụ án LÊå CHI VIÊN, vụ án Vườn Vải đời Lê Sơ là như vậy đấy!

Mãi 22 năm sau, vua Lê Thánh Tông mới tẩy oan cho Nguyễn Trãi, rồi sai người đi khắp dân gian tìm kiếm di cảo của Nguyễn Trãi, trước đó đã bị triều đình tiêu hủy. Bài thơ Dư tĩnh tọa pháp cung hà tư kim tích quân minh thần lương dữ đương kim cơ nghiệp chi thịnh, ngẫu thành nhất luật (Ta ngồi trong chính điện, hồi tưởng xưa nay vua sáng tôi hiền và cơ nghiệp thịnh vượng của nước nhà ngày nay, ngẫu nhiên làm thơ). Đề từ trong tập QUỲNH UYỂN CỬU CA, năm Hồng Đức 25. Bài thơ có câu: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Tấm lòng Ức Trai (Nguyễn Trãi) tựa khuê, tảo). “Khuê” là sao Khuê. “Tảo” là thứ cỏ tảo, đều là biểu tượng của văn chương tốt đẹp.

Đấy! Một câu thơ thất ngôn trong bài thơ NGỰ CHẾ thất ngôn bát cú luật Đường, mà phải “giải mã” đến mỏi cả tay như thế, đủ biết thơ văn cổ nó sâu kín hàm ẩn sâu sắc như thế nào.

Tác giả viết tiếp:

Đội quân hùng mạnh xúm xít quanh đức vua,
Vùng Hải Đông làn khói báo chiến tranh đã tắt.

Sáu quân hùng mạnh như hùm beo xúm xít chầu hầu bên nhà vua (NAM THIÊN ĐỘNG CHỦ), sẵn sàng nghe lệnh chỉ. Cả vùng biên cương Hải Đông, tức An Bang, (đời Trần thuộc đất phong của An Sinh Vương Trần Liễu), đã hoàn toàn yên bình, không còn chiến tranh nữa, “làn khói báo chiến tranh đã tắt”. Ở bên Tàu ngày xưa, người ta thường dùng phân chó sói khô để đốt lên, báo hiệu khi có chiến tranh. Là vì phân chó sói khi đốt thì làn khói bốc lên thẳng đứng. Trạm quan sát phía sau theo đấy mà báo hiệu tiếp về triều đình. Khói ấy, gọi là khói CAM TUYỀN. Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm khi chuyển ngữ tác phẩm CHINH PHỤ NGÂM KHÚC bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn sang tiếng Nôm (Việt), đã viết: “Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt / Khói cam tuyền mờ mịt thức mây” là thế.

Hai câu kết bài, vua Lê Thánh Tông viết:

Trời Nam muôn thuở núi sông vững bền,
Chính là lúc sửa sang việc văn, tạm gác việc võ.

Nhà vua lập tao đàn, hội tụ 28 ngôi sao (Nhị thập bát tú), do chính nhà vua làm Chủ soái. Thiết chế nhà nước phong kiến có dáng dấp thể chế của nhà Minh bên Tàu. Tầng lớp quan lại công thần xuất thân Lam Sơn dần dà tự giết nhau, mở đường cho lớp nhà Nho trí thức, có cơ hội thi thố tài năng, đem tài giúp nước. Nói vậy thôi, vua Lê Thánh Tông dùng văn trị, nhưng ngài vẫn không quên việc củng cố quân đội, chuẩn bị cho cuộc viễn chinh ở phương Nam, diệt nước Chăm pa (Chiêm Thành), sáp nhập quốc gia đáng gờm này vào lãnh thổ nước Đại Việt. Điều này diễn ra vào năm Hồng Đức thứ 25 (1494). Và cũng chỉ 3 năm sau (1497), vua Lê Thánh Tông băng hà, hưởng thọ 56 tuổi trời…

Thơ Ngự chế khắc trên núi TRUYỀN ĐĂNG, nay vẫn còn đó, mặc dù cũng có đôi chỗ mòn đi. Dân gian ngày nay quen gọi núi TRUYỀN ĐĂNG là NÚI BÀI THƠ, một thắng cảnh mang màu sắc tâm linh đặc sắc của tỉnh Quảng Ninh vậy!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).