Theo chân Bác trong mùa Thu lịch sử

Bài 2: Những ngày cờ bay nơi nơi, muôn ánh sao vàng

Trong khúc hoan ca “Mười chín tháng Tám” của nhạc sĩ Xuân Oanh có đoạn: “Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày. Thề đem xương máu quyết lòng chiến đấu cho tương lai… Mười chín tháng Tám, ánh sáng tự do đưa tới, cờ bay nơi nơi, muôn ánh sao vàng”. Tròn 80 năm trước, không khí khởi nghĩa sục sôi lan nhanh từ miền núi về miền xuôi, từ Bắc chí Nam; hơn 20 triệu đồng bào con Lạc, cháu Hồng nhất tề đứng lên theo lời kêu gọi của Việt Minh lật đổ ách thống trị của chế độ phát xít và thực dân phong kiến, chỉ trong 2 tuần, Cách mạng Tháng Tám đã thành công trên cả nước.

Rợp cờ đỏ sao vàng từ Tân Trào về miền xuôi

Quốc dân đại hội Tân Trào khai mạc ngày 16/8/1945 và nhanh chóng hoàn thành chương trình làm việc; sau khi bế mạc, các đại biểu khẩn trương trở về địa phương để chỉ đạo và trực tiếp tham gia tổng khởi nghĩa. Thực hiện Bản Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa, những đơn vị Giải phóng quân tại một số tỉnh như Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Giang (cũ)…, nhanh chóng tiến đánh, làm tan rã bộ máy chính quyền tay sai; chính quyền cách mạng từng bước được thiết lập. Quân giải phóng ở Tân Trào và một số vùng lân cận lập cũng tiến về Thái Nguyên và xuôi về các địa phương phía Nam.

Tại Thái Nguyên, quân Nhật đồn trú ở một số vị trí trọng yếu có lực lượng khá mạnh như Trại bảo an binh, Dinh Công sứ. Quân Giải phóng nổ súng lúc rạng sáng. Sau những phút đầu bị bất ngờ, quân Nhật lập tức chống trả quyết liệt khiến trận chiến diễn ra vô cùng khó khăn; tuy nhiên, từ ngày 20/8, chính quyền nhân dân đã được thành lập tại Thái Nguyên và thi hành chính sách của Việt Minh trong toàn tỉnh. Cuộc chiến của đơn vị Giải phóng quân với quân Nhật tại Thái Nguyên diễn ra ác liệt trong 1 tuần, sau đó quân Nhật chấp nhận các điều kiện của ta, rút binh sĩ về Hà Nội và trao lại vũ khí cho đơn vị Giải phóng quân của ta…

Bài 2: Những ngày cờ bay nơi nơi, muôn ánh sao vàng -0
Lực lượng tự vệ và quần chúng tiến chiếm Phủ Khâm sai (Hà Nội, ngày 19/8/1945).  Ảnh: Vũ Năng An.

Giữa lúc cuộc chiến của Giải phóng quân với quân Nhật tại Thái Nguyên mới bắt đầu thì tại Hà Nội, quần chúng cách mạng cũng sục sôi không khí khởi nghĩa. Trước thất bại của quân đội Thiên hoàng ở Mãn Châu và chính quốc, quân Nhật tại Hà Nội dao động, hoang mang cực độ, chủ yếu thủ thân trong doanh trại. Tại cơ quan Xứ ủy Bắc Kỳ (đóng ở làng Vạn Phúc, Hà Đông xưa; nay thuộc phường Hà Đông, Hà Nội), các đồng chí Thường vụ Xứ ủy Nguyễn Khang, Trần Tử Bình… dù chưa nhận được Chỉ thị Tổng khởi nghĩa của Trung ương, nhưng căn cứ Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta, đã cùng các đồng chí trong Ban Cán sự Đảng (Thành ủy) Hà Nội khẩn trương nắm tình hình và thống nhất tiến hành Tổng khởi nghĩa.

Căn cứ tương quan lực lượng và với sự sáng tạo, dám chịu trách nhiệm trước lịch sử, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội được thành lập ngày 16/8/1945 (đến ngày 18/8/1945 chuyển thành Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội) để lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền. Các thành viên chủ chốt của Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội gồm: Nguyễn Khang, Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ; Nguyễn Huy Khôi (tức Trần Quang Huy), cán bộ Ban Công vận Xứ ủy Bắc Kỳ; Nguyễn Quyết, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Nguyễn Duy Thân, Thành ủy viên, phụ trách Việt Nam cứu quốc hội và Lê Trọng Nghĩa, cán bộ Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư đảng đoàn Dân chủ đảng. Cố vấn cho Ủy ban là ông Trần Đình Long.

Trong không khí sục sôi, hào hùng và cờ đỏ sao vàng phấp phới khắp đường phố Hà Nội, vào đầu giờ chiều ngày 19/8/1945, các vị lãnh đạo Ủy ban khởi nghĩa cùng lực lượng tự vệ và quần chúng rầm rập tiến về Phủ Khâm sai. Là một trong những người giữ vai trò cốt cán trong Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội, sau này Đại tá Lê Trọng Nghĩa nhớ lại: "Từ Nhà hát Lớn Hà Nội, chúng tôi dẫn đầu đoàn quần chúng ào ạt tiến về Phủ Khâm sai... Tôi, anh Trần Tử Bình (khi đó giữ vai trò trực Xứ ủy Bắc Kỳ - PV), anh Nguyễn Khang và nhiều quần chúng vượt qua cổng sắt, tràn lên đại sảnh và tiến vào Văn phòng Phủ Khâm sai. Nhân danh Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội, anh Trần Tử Bình tiến thẳng đến nơi làm việc của Nguyễn Xuân Chữ, người cầm đầu "Ủy ban chính trị" bù nhìn, ra lệnh phải đầu hàng. Hai tự vệ Thành Hoàng Diệu lập tức trói Nguyễn Xuân Chữ lại, giải đi (sau này, bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ được đích thân Hồ Chủ tịch kí lệnh phóng thích - PV). Thấy trong phòng có hệ thống máy thông tin, anh Trần Tử Bình quay điện gọi các tỉnh trưởng và thị trưởng Hà Nam, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh… thông báo Việt Minh đã giành chính quyền ở Hà Nội; yêu cầu họ phải mau chóng giao chính quyền cho Việt Minh, nếu không sẽ bị cách mạng xử lí. Cùng lúc, một số tỉnh trưởng, tri phủ, tri huyện hoảng hốt gọi điện về Phủ Khâm sai để xin ý kiến, đều nhận được mệnh lệnh dứt khoát của anh Trần Tử Bình: "Lập tức trao quyền ngay cho Việt Minh!".

Đồng thời với chiếm Phủ Khâm sai, lực lượng cách mạng đã bao vây và chiếm những trung tâm quyền lực: Trại Bảo an binh, Ty Liêm phóng, Sở Cảnh sát Hàng Trống, Tòa án, Kho bạc, Bưu điện...

Chặn đứng sự can thiệp của quân Nhật, bảo vệ thành quả cách mạng

Trong những ngày cách mạng sục sôi đó, Đại tướng Nguyễn Quyết (sau này là Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước) giữ vai trò người lãnh đạo cao nhất của Thành ủy Hà Nội và cũng là 1 trong 5 vị cốt cán của Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội. Trong hồi ức của mình, ông nhớ lại: “Hôm ấy, ngày 19/8, một ngày lịch sử vĩ đại, một ngày chủ nhật đẹp trời cả nghĩa đen và nghĩa bóng của nó! Từ sáng sớm, Hà Nội đỏ rực cờ Việt Minh. Theo kế hoạch đã định, hàng vạn nông dân ngoại thành kéo vào tập hợp tại các cửa ô, các địa điểm sát ven nội thành mang theo đủ các loại gậy gộc, mã tấu, dao phát bờ, câu liêm, lẻ tẻ có một số súng. Đoàn người vừa đi vừa hô khẩu hiệu "Ủng hộ Việt Minh", "Đả đảo chính phủ bù nhìn", "Thành lập chính quyền nhân dân cách mạng". Hàng vạn công nhân, nông dân, dân nghèo ở các làng Mọc, Láng kéo ra Ngã Tư Sở, do đồng chí Lê Đức Vân phụ trách Đoàn thanh niên cứu quốc dẫn đầu tiến lên chiếm đại lý Hoàn Long từ 6 giờ sáng để mở đường tiến vào tập trung khởi nghĩa ở nội thành. Tên tri huyện Đặng Vũ Niết hoảng sợ trước khí thế của quần chúng đã chạy trốn. Bọn lính bảo an ở đây đã nộp vũ khí đầu hàng…

Vào lúc 11 giờ, cuộc mít tinh khởi nghĩa bắt đầu.

Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Huy Khôi - đại diện Ủy ban khởi nghĩa nói rõ Nhật đầu hàng, thái độ của ta đối với quân Nhật bại trận, đối với âm mưu của đế quốc Pháp và hô hào quần chúng kiên quyết đối phó với mọi cuộc xâm lăng, trước mắt thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ Việt Nam giành độc lập tự do và hạnh phúc cho dân tộc; khối quần chúng cách mạng liền biến thành hai đoàn biểu tình có lực lượng vũ trang dẫn đầu chia làm hai ngả đi chiếm các nơi trọng yếu trong thành phố theo kế hoạch đã định trước”.

Thực hiện sự phân công của Ủy ban khởi nghĩa, Đoàn biểu tình đi chiếm trại bảo an binh, cơ quan quân sự của ngụy quyền Bắc Kỳ do ông Nguyễn Quyết phụ trách và Đoàn thanh niên tuyên truyền xung phong dẫn đầu gặp tình huống hết sức phức tạp. Đại tướng Nguyễn Quyết nhớ lại: “Ủy ban khởi nghĩa đã gửi thư cho tên Thụ - quan ba chỉ huy trại, thuyết phục hắn quy thuận Việt Minh, nhưng khi ta đến, cổng trại vẫn đóng chặt. Tình hình lúc đó đòi hỏi phải khẩn trương nên tôi hạ lệnh phá cổng. Thấy không thể giữ được trước uy lực của cách mạng, bọn chúng đành phải ra mở cổng. Lực lượng tự vệ tiến vào sân. Tên Thụ xin gặp chỉ huy của ta, hắn tỏ ý đã nhận được thư của ta nhưng còn phải trình lên cấp trên. Tôi dồn ngay hắn là Việt Minh đã chiếm Phủ Khâm sai, cấp trên của hắn đã đầu hàng, chính quyền đã về tay cách mạng, đồng thời ra lệnh cho hắn tập trung binh lính lại nộp vũ khí”…

Bài 2: Những ngày cờ bay nơi nơi, muôn ánh sao vàng -0
Tác giả (đứng hàng sau) trong một lần đến thăm vợ chồng Đại tướng Nguyễn Quyết (ảnh chụp năm 2008).

Tuy nhiên, việc chiếm được trại bảo an binh không hề dễ dàng, vì đây là một vị trí quân sự quan trọng của chính quyền bù nhìn thân Nhật, có khoảng 1.000 binh lính được trang bị đầy đủ vũ khí. Với sự mưu trí, dũng cảm và linh hoạt, lực lượng khởi nghĩa đã chiếm được trại nhưng bất ngờ quân Nhật điều xe tăng tới bao vây quân khởi nghĩa. Tình thế này hết sức hiểm nghèo vì đoàn khởi nghĩa đa phần là quần chúng tay không, một số tự vệ và thanh niên được trang bị vũ khí thô sơ, không thể nào đối đầu với quân Nhật trang bị khá hiện đại, có cả xe tăng.

Đồng chí Nguyễn Quyết nhớ lại: “Quân Nhật nằng nặc đòi tước vũ khí của chúng tôi và đòi chiếm lại trại bảo an binh. Còn ta nhất định không chấp nhận. Nghe tin đó, một số cán bộ và chiến sĩ tuyên truyền xung phong tỏ ra bực bội, đề nghị tôi "sửa" cho chúng nó một trận. Kiên quyết nắm vững chủ trương của Thành ủy, một mặt tôi giải thích cho anh em, mặt khác tôi cho củng cố hàng ngũ quần chúng, tiếp tục bao vây địch. Tôi nói với quân Nhật: "Các anh hiện nay là những kẻ bại trận, chỉ đợi nay mai quân Đồng minh vào tước vũ khí rồi về nước. Bố mẹ, vợ con các anh đang chờ các anh. Nếu các anh gây sự với chúng tôi, chúng tôi quyết đánh thắng các anh và các anh sẽ bị thiệt mạng vô ích. Cuộc cách mạng của chúng tôi đã giành được thắng lợi ở khắp nơi rồi. Tốt nhất là các anh trở về vị trí cũ. Các anh không nên dụng chạm vào công việc nội bộ của người Việt Nam chúng tôi".

Với sự chỉ đạo kịp thời và sự chi viện về ngoại giao của Xứ ủy Bắc Kỳ, cùng áp lực quần chúng, quân Nhật đành cho xe tăng quay đầu và rút hết binh lính trở lại doanh trại. Việc chiếm Ty Liêm phóng và một số mục tiêu trọng yếu khác cũng đã hoàn thành. Đến chiều tối ngày 19/8/1945, hầu hết các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn thân Nhật tại Hà Nội đã lọt vào tay cách mạng. Liên tiếp những ngày sau đó, khởi nghĩa lan rộng khắp nơi và chính quyền cách mạng được thiết lập trên cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.

(Xem tiếp bài 3: Bác đã về đây, ơi Thủ đô!)

Duy Hiển – Viết Phùng

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.