Bắc cầu dải yếm...

Hầu hết thanh niên nông thôn Bắc Bộ ngày trước (1975) đều thuộc câu: “Ước gì sông hẹp một gang/ Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi”. Đây là lời của cô gái mạnh bạo, tinh nghịch mà vẫn có cái nồng nàn khao khát chứng tỏ câu ca dao mới ra đời. Chàng trai nào mà được đi cầu này chắc sẽ hạnh phúc nhất thế giới! “Dải yếm” là thế nào? Quan hệ gì với cái yếm? Và cái yếm có từ bao giờ? Thật không dễ trả lời...

Trong “Tam quốc” có chi tiết đáng chú ý: Khổng Minh trêu tức Tư Mã Ý bằng cách gửi cho Ý một hòm trang sức (khăn yếm), ý nói nhà ngươi là đàn bà rồi nên không dám ra đánh nhau một trận. Ý quyết chịu nhục chứ không giáp chiến để mắc mưu. Cuối cùng Ý thắng... 

Thực ra dịch “khăn yếm” hoặc “áo yếm” là dịch thoát từ hai chữ “cân quắc” có nghĩa là đồ trang sức nói chung của đàn bà chứ không cụ thể là khăn, áo hoặc yếm... 

Thực tế thời ấy, phụ nữ Tàu chưa trang phục “nội y”, chưa có “yếm”, chỉ có “khăn”, “áo”... Thời Hy Lạp cổ đại phụ nữ cũng chưa mặc áo lót, thường dùng lông cừu hoặc vải lanh để quấn quanh ngực. Đến thế kỷ thứ III phụ nữ La Mã mới dùng những dải băng quấn ngực khi chơi thể thao. Mãi tận năm 1914 chiếc áo lót hiện đại (gần như bây giờ) được cấp bằng sáng chế hẳn hoi cho một người tên là Caresse Crosby (Mỹ).

Trang phục “nội y” của phụ nữ thời Đế chế La Mã.
Trang phục “nội y” của phụ nữ thời Đế chế La Mã.

Ở nước ta thời Bà Triệu phụ nữ cũng chưa có áo lót. “Đại Nam quốc sử diễn ca” miêu tả: “Cửu – Chân có ả Triệu kiều/ Vú dài ba thước tài cao hơn người/ Gặp cơn thảo muội cơ trời/ Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang...”. “Thiên nam ngữ lục” có tới 108 câu miêu tả chi tiết có phần rườm rà về nhân vật, tình huống. Bà Triệu hiện lên vừa dân giã vừa phi thường: “Mặt như vầng nguyệt mới lên/ Mắt sáng như đèn, má tựa lan gioi/ Vú dài ba thước lôi thôi/ Ngồi chấm đến đùi, cúi rủ đến chân./ Sức quẩy nổi vạc nghìn cân...”.  

Không chỉ ở hai diễn ca này mà các diễn ca khác cũng đều có chi tiết ấy để nhấn mạnh chất phi thường của nhân vật: “Vú dài ba thước vắt lưng” (Đại Nam sử ký quốc ngữ), “Vú dài ba thước quàng liền sau lưng” (Việt sử diễn âm), “Vắt hai vú lên voi cả thét” (Thiên Nam minh giám)... Như vậy, xét dưới góc độ trang phục thì rõ ràng phụ nữ thời Bà Triệu chưa có áo lót. Điều này phản biện ý kiến cho rằng thời Hùng Vương phụ nữ đã có “yếm”!?

Lần giở theo lịch sử văn học viết, đến “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn” của Lê Thánh Tông, hình tượng người phụ nữ mới hiện rõ nét: “Răng đen cười hé nguyệt nga, lác ngờ hột đỗ/ Trán rộng vạch ngang vân trận, mẽ tựa hoa mai/ Nụ vàng giắt pha ngữ hạt trai/ Quạt ngọc điểm đồi mồi xương vích/ Biếc búp dong, tía rọc ráy, yếm chéo cánh, cạnh thêu/ Lục cổ vẹt, đỏ tiết dê, xống dang chân thắt đáy”. 

“Vân trận” tức chỉ mái tóc rẽ ngang như làn mây. “Nụ vàng” tức hoa tai vàng. “Đồi mồi xương vích” tả cái quạt đẹp, quý có hình vân rất đẹp của con đồi mồi, con vích ngoài biển. “Xống” tức váy (ngày nay vẫn có từ “áo xống” tức áo và váy). 

Lê Thánh Tông là vua mà tả “giới hoa nương” như thế chứng tỏ ông có tư tưởng tiến bộ, gần dân. Cái yếm được ông tả có hình “chéo cánh” với màu xanh biếc của búp dong hoặc màu tía của dọc ráy. Có lẽ “yếm” này là tiền đề để có “áo tứ thân” thời Nguyễn!?

Đến thơ Hồ Xuân Hương có hai câu rất sinh động: “Lược trúc biếng cài trên mái tóc/ Yếm đào trễ xuống dưới nương long” (Thiếu nữ ngủ ngày). Hình tượng thật mời gọi nên “quân tử dùng dằng” là dễ hiểu!

Trong ca dao, hình tượng “dải yếm” ra đời muộn, nhưng vì hấp dẫn nên tần số xuất hiện mới dày đặc. Dễ thấy ngôn ngữ tả cái yếm rất gần với thời đương đại hôm nay. Hầu hết được miêu tả dưới cái nhìn tình tứ của người con trai: “Tấm yếm đào sao em khéo giữ màu/ Răng đen nhưng nhức, mái tóc đầu em hãy còn xanh/ Sao em ở vậy cho đành?”. Rõ là khéo tán. Nói “khéo giữ màu” là nói đến vật hoán dụ gần gũi nhất cũng là biểu tượng của người con gái còn trong trắng, tươi nguyên. 

Hầu như các thiếu nữ thời đó đều “đồng phục” với “yếm đào”: “Mỗi tranh vẽ một cô tiên/ Cô đàn cô sáo, cô gõ sênh tiền đẹp sao/ Cô nào yếm cũng lòng đào/ Cô nào mắt cũng như sao trên trời”. Dưới con mắt dân gian thì những thiếu nữ ấy là những tiên nữ. Chỉ tiên nữ mới ở trên trời. Thành ra cái yếm của họ được coi là vật của “tiên”. 

Xin trích một mảnh chèo để thấy cái “vật tiên” hấp dẫn thế nào. Một hội thoại giữa nhân vật Từ Thức (là thầy) với nhân vật Hề (trò) trong mảnh trò “Hề theo thầy”, trích trong “Từ Thức”: “Hề: Cái gì bằng quả ổi ở dưới mắt tiên thế kia/ Từ Thức: Cái mũi tiên/ Hề: Cái gì đo đỏ dưới mũi tiên kia/ Từ Thức: À, cái quạt tiên/ Hề: Cái quạt thì nom thấy rồi, nhưng cái gì ở trong cái quạt/ Từ Thức: Trong cái quạt là cái kiềng/ Hề: Gớm, đi với người ngu, tức thật, ở trong cái kiềng cơ/ Từ Thức: Trong cái kiềng là cái áo tiên/ Hề: Chỗ nói không nói, lại cứ đi nói đằng nào. Ở trong cái áo cơ/ Từ Thức: Trong cái áo là cái yếm tiên chứ gì/ Hề: Cái yếm thì ai không biết, ở trong cái yếm kia.../Hề: Thôi vứt đi rồi, thấy bảo ông học nhiều lắm...”. 

Ở đây là sự “lộn ngược” mối quan hệ thầy - trò vốn là một trong ba mối quan hệ cơ bản trong xã hội trung đại. Trò không những không thưa bẩm với thầy lại còn “truy” thầy, thậm chí mắng mỏ thầy (với người ngu), mỉa thầy (thấy bảo ông học nhiều lắm... ). Thầy lại ngược lại, mềm mỏng, nhẹ nhàng và có phần dớ dẩn!

Dải yếm đào...
Dải yếm đào...

Trong xã hội thời trung đại, cái yếm đào, ngoài là trang phục còn là vật làm duyên, để bóng gió: “Hỡi cô mặc áo yếm hồng/ Đi trong đám hội có chồng hay chưa?”. Để mời gọi, trao gửi: “Cô kia yếm trắng lòa lòa/ Lại đây đập đất trồng cà với anh/ Bao giờ cà chín cà xanh/ Anh cho một quả để dành mớm con”. Để tỏ sự nhớ nhung: “Mình về mình có nhớ chăng/ Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình/ Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao”. 

Còn lấy làm cớ để quen: “Thuyền anh ngược thác lên đây/ Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền”. Để làm “cầu nối”: “Ở gần mà chẳng sang chơi/ Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu/ Mồng tơi chẳng bắc được đâu/ Em cởi dải yếm bắc cầu anh sang”. Để làm biểu tượng của tình yêu trai gái: “Trời mưa trời gió kìn kìn/ Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông”. Còn được dùng để giãi bày tiếc nuối: “Kiếp sau đừng hóa ra người/ Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân”...

Lạ nhất là có “cô yếm thắm” này: “Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư/ Ốm lăn ốm lóc cho sư trọc đầu”.

Yếm thường có hai loại là yếm cổ xẻ (có chồng, tiện cho con bú) và yếm cổ viền (thiếu nữ). Con gái xinh lại mặc yếm thắm cổ viền hở lườn thì quá hấp dẫn: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn/ Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh”! Có thể giải thích bài ca dao sư ốm theo cách hiểu về màu sắc này: Cô yếm thắm đã xinh rồi lại còn “bỏ bùa” thì sư ốm là phải! 

Trong thế giới ca dao chỉ thấy thiếu mỗi yếm màu vàng, vì đó là màu hoàng tộc, đặc quyền của triều đình. Còn thì rất nhiều màu, xanh da trời (thiên thanh), hồng nhạt (cánh sen), hồ thủy (xanh biển), trắng, điều, bã trầu, hoa cà, nâu, nõn chuối, gốm...

Màu sắc yếm nói phần nào về hoàn cảnh: nông dân mặc yếm vải thô màu nâu. Con gái nhà gia giáo mặc yếm màu trang nhã, kín đáo. Người lớn tuổi mặc yếm màu thẫm. Giải yếm là dây vải để thắt vòng quanh eo rồi thắt múi phía trước. Yếm thường được mặc cùng áo cánh hay áo dài, đội nón quai thao, khăn nhiễu hoặc khăn mỏ quạ.

Theo nhiều tư liệu thì vào thế kỷ XVIII - XIX có các loại, yếm hình vuông vắt chéo trước ngực, góc trên khoét làm cổ, hai đầu đính mấu dây để buộc ra sau gáy. Yếm cổ xây khoét tròn. Yếm cổ nhạn khoét nhọn đầu hình chữ V xẻ sâu xuống. Hai góc hai bên yếm có dây (dải) để buộc ra sau lưng. 

Bài ca dao “Mười thương” phải có yếm: “Một thương tóc bỏ đuôi gà/ Hai thương ăn nói mặn mà có duyên/ Ba thương má lúm đồng tiền/ Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua/ Năm thương cổ yếm đeo bùa . . .”. “Bùa” ở đây không phải “bùa ngải” mà là “bùa” vừa làm duyên, theo tín ngưỡng để tránh ma tà gió độc...

Trước 1954 phụ nữ vẫn mặc yếm. Yếm đào trong thơ Nguyễn Nhược Pháp là yếm của cô gái cổ truyền nhưng ý nghĩ thì tân thời: “Em đeo dải yếm đào/ Quần lĩnh áo the mới/ Tay cầm nón quai thao”. Đến “yếm” của Hoàng Cầm trong “Hội yếm bay” thì mới hẳn: “Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội/ Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi...” để “Yếm đào trút lại phía vô linh”!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).