Ấn tượng tuổi thơ – Nhìn từ phê bình phân tâm học!

Ông tổ của phân tâm học (psychanalyse) là Sigmund Freud (1856-1939) có ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống tinh thần nhân loại thế kỷ XX. Bắt rễ ở mảnh đất y học, cây phân tâm học lớn lên chia thành nhiều cành nhánh rồi vươn sang bầu trời của tâm lý học, thần kinh học, văn hóa học, nhân học, phê bình văn học...

Cống hiến lớn nhất của Freud là tìm ra vô thức, khái niệm này quan trọng đến mức ảnh hưởng đến hầu hết mọi lĩnh vực. Nhờ đó người ta mới nhận thấy cái phần quan trọng của con người, “phần chìm của tảng băng” là “vô thức”. Các bộ môn văn chương, nghệ thuật, tôn giáo, luật học, giáo dục học, mỹ học... đều lấy “vô thức” như một chìa khóa công cụ để mở ra thế giới của riêng mình. Triết học văn hóa đang vận dụng ánh sáng từ “vô thức” để cắt nghĩa, lý giải một số lĩnh vực còn sâu kín. Nói thế kỷ XXI là thế kỷ của tâm linh, một phần dựa trên căn cứ là sự phát hiện “vô thức” của phân tâm học.

Ấn tượng tuổi thơ – Nhìn từ phê bình phân tâm học! -0
Nhà văn L. Tolstoy (1828-1910).

Tên khái niệm “phê bình phân tâm học” đã cho thấy hướng nghiên cứu này chủ yếu dựa trên lý thuyết về phân tâm học để đưa ra những diễn giải mới về quá trình sáng tạo, về tiếp nhận, ý nghĩa, giá trị thẩm mỹ của văn chương... Nhờ đó mà đối tượng nghiên cứu được mở ra về bề rộng, bề sâu, bề xa. Như một tòa tháp có ba chân móng chắc chắn là phê bình phân tâm học tiểu sử, phê bình phân tâm học văn bản, phê bình phân tâm học người đọc nên nếu chỉ khảo cứu một chân móng của chuyên ngành sẽ không hiểu cấu trúc của tòa tháp, mà phải tìm hiểu cả ba.

Với phê bình phân tâm học tiểu sử thì ấn tượng tuổi thơ là quan trọng nhất. Xét từ góc độ sinh học, cấu trúc nhân cách người gần như đã ổn định khi đứa trẻ 5,6 tuổi. Như vậy sự hình thành tính cách, năng khiếu, thiên hướng nghề nghiệp... đã có từ rất sớm. Phương ngữ người Việt có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ” là rất khoa học. Có thể dễ dàng tìm thấy ấn tượng tuổi thơ, nhất là ấn tượng về gia đình có trong sáng tác của nhiều nhà văn, tất nhiên sự đậm nhạt là khác nhau.

Nhưng những ấn tượng mang tính bi kịch thì sâu đậm hơn. “Đòn đau nhớ đời” là vậy. Những “đòn roi” của cuộc đời đã in thấu vào nơi thẳm sâu nhất đâu đó của ký ức để rồi bật ra một cách vô thức, có thể neo vào chi tiết, hình ảnh có thể gắn với tính cách nhân vật... Trả lời câu hỏi những yếu tố nào để thành nhà văn, Hêminuây nói “phải có một tuổi thơ không vui sướng!”.

Theo một khảo sát khoa học thì trong 436 nhà văn nổi tiếng (nước ngoài) có 47 người mồ côi cha; 18 người mồ côi mẹ; 12 người mồ côi cả cha mẹ; 34 người phải chứng kiến gia cảnh suy tàn, tan nát; 24 người phải nương nhờ người khác vì cha mẹ bất hòa... Ví như nghiên cứu về tác giả E.Pô thì con đường tiểu sử sẽ giúp ta tiệm cận gần và chính xác hơn tư tưởng nghệ thuật cũng như phong cách tác giả.

E.Pô mồ côi cha từ khi mới sinh, ba tuổi lại mồ côi mẹ. Mẹ ông là thiếu phụ trẻ đẹp nhưng mắc bệnh nặng mà cứ chết dần. Đứa trẻ hơn hai tuổi là E.Pô cứ ngày ngày quanh quẩn bên giường bệnh chứng kiến cái chết từ từ đến với người thân yêu nhất... Ấn tượng đau thương đó ăn sâu vào “vô thức”, khi lớn lên, E.Pô thể hiện điều ấy sâu đậm trong trang văn...

Dù sinh ra trong gia đình quý tộc lừng lẫy nhất nước Nga nhưng L. Tolstoy lại có một tuổi thơ bất hạnh, mẹ qua đời khi mới 2 tuổi, sau đó là mồ côi cha. Cuộc sống xô đẩy cậu bé luôn phải xê dịch nay đây mai đó. Đã thế cậu lại có bề ngoài xấu xí. Những điều ấy đã tạo ở nhà văn tương lai niềm bi quan. Nhà văn tự nhận xét về mình đầy mặc cảm: “một kẻ bất tài, xấu xí, vụng về, ít học, cộc cằn, nhàm chán, kiêu ngạo nhưng thực tế thì nhút nhát như một đứa trẻ”.

Ông trời bù đắp thiệt thòi cho cậu bằng cách phú cho một tình yêu thánh thiện khi mới 9, 10 tuổi. Người yêu của cậu là Sonia Kolosina 9 tuổi, họ hàng xa với gia đình. “Nàng” như một thiên thần kéo cậu ra khỏi bóng tối của sầu muộn hờn tủi. Mối tình sâu sắc, lớn lao đến mức sau này ở tuổi 75, Tolstoy vẫn nói rằng “Tình yêu lớn nhất của tôi là từ những ngày còn rất bé, đó là Sonia Kolosina”.

Khi lớn lên nhà văn không nguôi tưởng tượng về người mẹ: “Tôi đi bộ trong vườn và tôi nghĩ về mẹ tôi, người mẹ mà tôi không nhớ bất cứ điều gì về bà nhưng vẫn là một hình mẫu lý tưởng, thánh thiện. Tôi chưa bao giờ nghe bất cứ điều gì không hay về bà”. Có thể hình mẫu ấy trong tưởng tượng và hình dáng thiên thần của tình yêu đầu đời đã kết tinh trong tâm trí để rồi tượng hình thành nhân vật nữ sống mãi trong tâm trí bạn đọc - nàng Anna Karenina!

Bôđơle 6 tuổi cha chết, mẹ lấy chồng, bố dượng lại rất ác độc. Gia đình Rút xô rất nghèo. Bố làm thợ chữa đồng hồ, mẹ mất sớm, 14 tuổi đã tự phải lang thang kiếm sống. Cápca sinh ra đã ốm yếu, nhà nghèo, bố nghiện ngập, vũ phu...

Ấn tượng tuổi thơ – Nhìn từ phê bình phân tâm học! -0
Đi tìm “lá diêu bông”...!!!

Ở ta rõ nhất là Vũ Trọng Phụng, sinh ra trong một gia đình “nghèo gia truyền”, bố mất sớm, bà già, mẹ yếu, lại sớm chứng kiến những cảnh lố lăng bát nháo của đô thị (phố Hàng Bạc, trung tâm của đô thị Hà thành) buổi Tây hóa. Mặt trái đời với những cảnh tranh giành, cướp giật, ăn hiếp, đĩ điếm... nơi phố phường hằn vết vào cảm nhận để rồi sau này nảy nở sống động trên trang viết của ông. Nhân vật bà Phó Đoan có nguyên mẫu là một bà nhà giàu nổi tiếng Hàng Bạc tên tục là Bé Tý... Như một lẽ tự nhiên cái “nhỡn quan vô nghĩa lý”, “chó đểu”... trở thành cảm hứng sáng tạo của nhà văn này.

Vũ sinh ra vốn yếu nhược về cơ thể nên mắc bệnh lao, ngày đó thuộc “tứ chứng nan y”. Chưa đủ kết luận căn bệnh này liên quan đến tính “dâm” (như một số sách báo đề cập) nhưng có thể bản năng sinh tồn đã kích thích người bệnh quan tâm, tò mò đến nó như là một niềm khát sống (!?). Lớn lên trong cảnh nghèo đói, xã hội đảo điên, bi quan với mình, với đời, Vũ sớm tìm đến sách tử vi, tướng số, theo một số người cùng thời kể lại thì Vũ rất giỏi “món” này... 14 tuổi phải tự thân đi kiếm sống, khi trở thành nhà văn thì phải viết để nuôi cả nhà, nuôi bà, nuôi mẹ, nuôi vợ, nuôi con, nuôi mình... Tất cả những điều ấy góp phần hình thành một thế giới nghệ thuật Vũ Trọng Phụng có ba vùng ám ảnh là tính dục, tâm linh và đám đông.

Nhà văn tiêu biểu nữa là Nguyên Hồng. Có thể khẳng định những nhân vật mang tinh thần nhân đạo chủ nghĩa thống thiết của ông sau này là sự in bóng một thời ấu thơ cậu bé Hồng tha thiết, khao khát đến đau đớn thèm một bàn tay người mẹ xoa vào tấm lưng gãi rôm cho đứa con mồ côi cha, mẹ đi lấy chồng, bị cả nhà nội ghẻ lạnh...!!!

Tại sao nhiều nhà văn tài năng có quá khứ bất hạnh? Có phải bi kịch với họ đã trở thành một thứ “tài sản”? Nhìn từ phân tâm học, có thể lý giải thế này chăng: Một là, bất kỳ nghịch cảnh nào cũng hình thành nên một cái nhìn đời phức tạp, có khi ngược với số đông. Mà với văn chương, việc đầu tiên là phải có một cái nhìn nghệ thuật độc đáo. Bi kịch tuổi thơ đã giúp các nhà văn này tạo ra cái nhìn ấy. Hai là, văn chương là bài học thấu hiểu đời, thấu cảm người, cộng cảm nhân tình rồi truyền cảm đến người đọc bằng hình tượng nghệ thuật. Quá trình ấy đã hình thành rất sớm, gặp cơ hội nó được thể hiện ra thành những hình tượng ám ảnh. Có gì ám ảnh hơn bằng nỗi đau kể về nỗi đau!?

Dĩ nhiên có nhiều nhà văn tài năng không có tuổi thơ bi kịch nhưng lại được cuộc đời tạo cho những cơ hội để có ấn tượng để đời. Sinh ra trong gia đình quan lại, được học chữ Nho, sớm học tiếng Pháp, nhất là được tiếp xúc với cảnh quan trường cùng bao bi hài kịch trong xã hội đen tối nên đã giúp cho nhà văn Nguyễn Công Hoan có một quan niệm độc đáo: cuộc đời là một sân khấu hài kịch, con người là diễn viên trên sân khấu ấy. Để rồi ông có những trang văn đặc sắc về chế độ phản động, mục ruỗng, về con người tha hóa trong môi trường phi nhân tính.

Hoàng Cầm sẽ không là nhà thơ tình yêu nếu không có một thời thơ dại cậu bé Bùi Tằng Việt có một mối tình thơ ngây nhưng nồng nàn với một người chị xứ Kinh Bắc: “Em mười hai tuổi tìm theo chị/ Qua cầu bà Sấm, bến cô Mưa/ Đi ngày tháng lụi tìm không thấy/ Dải yếm lòng trai mải phất cờ” (“Quả vườn ổi”)...

Không ai muốn con mình sống trong bi kịch để trở thành nhà văn. Nhưng có thể rút ra bài học: việc giáo dục con trẻ mang tính quyết định tới tương lai! Cách giáo dục tốt nhất là tạo ra môi trường giáo dục tốt!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).