Ải Biến ở Mường Lò

Trong một chuyến công tác tới thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái chúng tôi tìm gặp được ông Lò Văn Biến - Ải Biến, như cách gọi quen thuộc của người Thái - người vẫn được coi là một pho sử sống về văn hóa Thái vùng Mường Lò.

Đọc một số bài báo, thấy người ta còn phong cho ông Lò Văn Biến là “nghệ nhân”, là “báu vật nhân văn sống”. Chẳng biết thực hư thế nào? Gặp ông, trước hết là một sự ngạc nhiên. Ải Biến năm nay tám mươi chín tuổi, mái tóc dài phủ gáy bạc như cước nhưng lưng thẳng, mắt sáng, da mặt hồng hào, đi lại nhanh nhẹn như thanh niên đương sức. Và đặc biệt là một trí tuệ mẫn tiệp, một cách nói chuyện hóm hỉnh.

img_4327.jpg -0
Nghệ nhân Lò Văn Biến (Nghĩa Lộ, Yên Bái).

Đến năm 2007, gần như động lực, ông Biến quyết định mở lớp dạy chữ Thái cổ cho bà con trong vùng, ông tự biên soạn giáo án và đích thân đứng lớp. Lớp học đầu tiên được hơn năm mươi học viên, người Thái người Kinh đủ cả (trong đó có bà Lò Thị Huân, nguyên Bí thư thị ủy Nghĩa Lộ). Kết quả thật không ngờ: ai nấy đều đọc thông viết thạo, đều vui mừng phấn khởi vì đã “đọc được chữ của ông bà để lại”. Cả một phong trào học chữ Thái cổ được hình thành và phát triển kể từ đó. Vì thế, ngoài cái tên “Ải Biến”, người Mường Lò còn gọi ông là “thầy Biến”. Nhưng ông không chỉ là “thầy Biến” đối với bà con Mường Lò.

Những năm qua, nhiều nghiên cứu sinh ngành Thái học người nước ngoài (Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Pháp v.v...) nghe tiếng ông đã lặn lội tìm đến Mường Lò để học hỏi, trao đổi cùng ông về chữ Thái, văn hóa Thái. Không che giấu niềm tự hào, ông chỉ cho chúng tôi thấy căn nhà sàn nhỏ ở phía góc vườn - ông ở nhà sàn lớn phía trước - bảo rằng: “Đấy, cái cậu người Nhật Bản đã ở đấy suốt mấy tháng trời để học cùng với tôi đấy”. Những kết quả nhãn tiền ấy phần nào cũng giúp cho công việc của ông hiện tại trở nên bớt khó khăn hơn. Chính quyền địa phương và một vài tổ chức hội đoàn đã đóng góp chút kinh phí để giúp ông giảng dạy. “Đủ để tôi trả tiền xăng xe đi lại” - ông bảo thế, dù phương tiện đi lại của ông thật ra chỉ là… xe đạp điện.

Nhưng thầy Biến không chỉ dạy chữ, thầy còn dạy cả múa xòe cho bà con. Nghe có vẻ lạ: xòe Thái vẫn là đặc sản của văn hóa Thái kia mà, ai cũng biết, sao lại phải dạy? Nhầm to. Xòe Thái không phải là việc đốt đống lửa ở giữa vòng người nắm tay nhau hết chụm vào rồi lại tản ra. Xòe như thế chỉ là “xòe Thái lai Kinh”, chỉ là cách vung tay vung chân để cho hả hơi men sau một chầu uống rượu túy lúy mà thôi, chẳng có gì là nghệ thuật cả.

Trong trí nhớ của nhiều ông già bà cả, Mường Lò xưa có nhiều đội xòe chuyên nghiệp, nhiều điệu xòe quyến rũ, đủ sức làm ngây ngất lòng và níu chân khách phương xa. Nhưng qua thời gian thì cứ mai một dần. Phải nhờ tới ông Biến cất công sưu tầm và truyền dạy, người Mường Lò nay mới biết đến sáu điệu xòe cổ tưởng đã thất truyền. Chúng tôi đã may mắn được thưởng thức một cuộc xòe như vậy. Và thêm một lần ngạc nhiên nữa khi nhìn ông lão bát tuần cực dẻo tay trống, say sưa giữ nhịp cho chị em Thái thướt tha váy áo múa lượn uyển chuyển trong ánh lửa bập bùng.

Đôi mắt ông cứ ướt rượt lên, long lanh, như có đuôi. Đôi mắt gây ấn tượng đến nỗi, đêm hôm ấy, sau mấy chén rượu nồng bên bếp lửa nhà sàn, tôi bạo dạn hỏi ông về chuyện… yêu đương thời trẻ. Ông chỉ tủm tỉm cười, không trả lời, nhưng ra chiều đắc ý. Tò mò hỏi tiếp về tục “chọc sàn” của người Thái, chúng tôi được ông giải thích: “Các anh đừng có tưởng bở nhé. Con gái Thái đa tình nhưng không dễ dãi, không phải cứ muốn chọc là chọc lung tung thế nào cũng được đâu. Muốn tán nó, anh phải biết thổi sáo, thổi khèn bè. Thổi, trước hết là cho cha mẹ nó nghe đấy. Tiếng khèn tiếng sáo bộc lộ tâm tính của anh. Cha mẹ nó thấy hợp, để yên, thì lúc ấy anh mới được lại gần mà lấy cây sáo hoặc cây khèn mà chọc khẽ vào gầm sàn cái chỗ nó nằm, nó sẽ ra trò chuyện với anh. Bằng không, họ đuổi cổ anh liền, đừng có mong bén mảng”.

img_4328.jpg -0
Nghệ nhân Lò Văn Biến dưới ống kính máy quay.

Về đời tư, vợ chồng ông sống với nhau đến nay đã gần sáu mươi năm, sinh được năm trai một gái. Cậu con trai út tên Lò Văn Thư, thông minh đĩnh ngộ, được ông dạy cho tất cả những gì ông biết: chữ Thái, múa xòe, chơi tính tẩu, thổi khèn bè… thì lại chẳng may gặp nạn mất sớm, khi mới ngoài hai mươi. Lá xanh rụng trước lá vàng. Khó có thể nói cho hết nỗi buồn đau trong lòng người cha. Cái chết của con khiến ông như sụp đổ, chẳng thiết làm gì nữa ngoài việc hàng ngày mang cây khèn bè ngồi bên mộ con, thổi lên những thanh âm thê lương nẫu ruột. (Nghe chuyện này, máu nghề nghiệp nổi lên, chúng tôi bạo dạn xin ông “diễn lại” để ghi hình, hy vọng sẽ có một trường đoạn làm điểm nhấn cho bộ phim. Ông đồng ý. Và đây là một hình ảnh mà có lẽ chúng tôi sẽ rất khó quên: giữa ruộng ngô rộng mênh mông, dưới bụi tre rậm, ông già tóc bạc như cước ngồi thổi khèn bên mộ con. Tiếng khèn nức nở ai oán hòa lẫn tiếng gió, tiếng tre đưa kẽo kẹt, đôi lúc cứ thít lên như tiếng khóc bị nén lại. Mắt ông ngấn lệ. Tuổi già hạt lệ như sương. Người già vốn ít khóc. Còn khóc, ắt phải buồn lắm).

Nhưng rồi thời gian trôi qua. Ông tự nhủ với lòng: không còn con để truyền lại vốn hiểu biết về văn hóa Thái thì truyền cho những người khác, cho cộng đồng. Và phải làm thật nhanh, thật gấp, vì ông đã ở tuổi xế chiều. Có lẽ, đây chính là một trong những lý do khiến Ải Biến, như chúng tôi thấy và như người Mường Lò đều công nhận, miệt mài “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, tự nguyện làm người bảo tồn, truyền dạy và phát huy những tinh hoa trong di sản văn hóa Thái vùng Mường Lò.

Cuối cùng cũng đã đến lúc chia tay Ải Biến, rời Mường Lò trong tiếng khèn bè lúc trầm lúc bổng, chúng tôi nhủ lòng sẽ còn trở lại. Để nghe ông kể chuyện. Để thấy lại hình ảnh một ông lão tóc dài trắng như cước đang gò lưng cặm cụi giữa những trang sách cũ nát, chữ viết ngoằn ngoèo như giun dế. Để thấy lại, vẫn ông lão ấy, đang dẻo tay trống giữa dập dìu váy áo của vòng xòe Mường Lò đầy quyến rũ…

Hoài Nam

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.